DIỆU ĐÀN HUYỀN KHÔNG NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM ĐINH DẬU

05 Tháng Hai 201812:00 SA(Xem: 11400)



ĐÀN GIỜ MÃO NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 2017

Ngày 23 Tháng 10 Đinh Dậu

  
   








https://youtu.be/Bur5f4uXwyA 

    
Pháp Âm #107

“Chắt chiu cầu bài pháp thiên đài

Nhất tâm sang sửa mặt mày

Chiều nay, mai muốn pháp bài Huyền Thiên

Trên đảnh thượng luận phiên thượng cổ

Chúc con hiền về chỗ thành đô

Lo cho hiếu mẹ điểm tô

Rồi nhín một chút nam mô lịnh truyền

Ở ngôi gia có gác tư riêng để tịnh

 Ngồi xếp bằng chánh định ma ha

Con hiền đừng có sợ ma

Để Ông giúp sức thật thà sửa sang

Năm con gà Phật Hoàng luân chuyển

Đất Láng Linh cổ điển Ông Hai

Chiều nay định số an bày

Cho ai biết được PHẬT NGÀI giáng lâm

Thân phàm XUẤT THẾ ĐẦU NĂM

Đi hơn tuần lễ dập bầm giầy da

Vui buồn hay hỡi cổ già

Khi con về tận ngôi nhà có sao

Người tu mi một màu chánh định

Thì làn hơi này thiện tính Sài Gòn

Bửa nay có hai vị đạo con

Đến gieo thiệu cũng còn đắn do

Hoàn  cảnh ấy hay ho đoạn cuối

Chúc Ca Li mát suối trong veo

Hai người tạm ở Hòn Heo

Còn ta tiếp tục leo trèo núi non

Về hai lần thân con bị bịnh

Ở lại hai ngày nhận định hiền lâm

Bây giờ trời đã chuốc tâm

Ngày mai lui gót đặt thầm thành đô

Được rồi đó nam mô lui gót

Đức tính này nơi chót xem nhìn

Bây giờ vui vẻ đệ huynh

Cho nên nòi giống của mình cao thanh

Buồn chi huynh đệ dựng quanh

Ngày mai buồn tẻ vắng Ngọc Lành thành đô

Còn Ông như thể điểm tô

Vẻ thêm son phấn đem vô triều đình

Chị em em chị hiện tình

Có duyên có phận ráng mình mà nghe

Rấp tâm thì Phật chở che

Ngày nay con ráng đây nè vị ngôi

Năm con gà tiếng còi nó gáy

Biết đâu chừng nó kêu đại ó o

Con hiền đừng quá âu lo

Làm tròn bổn phận Phật lo ngôi nhà

Tu hoài trẻ mãi không già

Coi chừng năm Dậu con gà cửa băng

Vì trong ngoài nước giựt chị Hằng

Làm quên Chú Cuội cung trăng Nam Kỳ

Đến đây tạm dứt thơ thi

Tháng Giêng ngươn thượng vậy thì cho con
[đi Mỹ vào Tháng Giêng Mậu Tuất]

Bây giờ trong cảnh chèo thoàn

Về nơi về chỗ mong con tìm về

Mình buồn mình mở mình nghe

Mình vui mình xách vỏ [vỏ vọt = tắc ráng] chạy te lên giồng

Ca Li cũng có đạo đồng

Về đây nghĩ cánh trong lòng Kim Hưng

Chúc con trẻ nằm khoanh có của

Để sau này sáng sủa mặt mày

Đến đây dứt pháp Ông Hai

A Di Đà Phật chứng ngay cơ mầu.”


Chú Thích: Ông Hai Láng Linh là nói đến “Cậu Hai Nhu” năm xưa, tức ông Trần Văn Nhu.  “Ông sinh ra trong thời buổi đất nước bước vào giai đoạn suy yếu tột độ và thực dân Pháp đang đe dọa xâm lược nước ta. Giữa lúc ấy, triều Nguyễn ra lệnh thực hiện các chính sách đồn điền tại An Giang. Gia đình ông là một trong các di dân lập làng đến An Giang. Lần đầu tiên Phật Thầy Tây An (tên thật Đoàn Minh Huyên) và Đức Cố Quản Trần Văn Thành đã đến trung tâm Láng Linh (nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú) lập một trại ruộng để khai khẩn đất hoang, đặt tên là Bửu Hương các (Bửu Hương: tên đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ; các: ruộng), người dân quen gọi là trại ruộng Phật Thầy (1) (ngày nay ghi là trại ruộng Bà Nguyễn Thị Thạnh ?!). Tài liệu truyền miệng cho biết: Cậu Hai Nhu rất giỏi chữ Nho (chữ Hán) và giỏi võ nghệ. Nhưng không thấy đề cập mức độ khai khẩn vùng đất này. Thậm chí đóng vai trò như thế nào trong cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa ? Chúng ta chỉ nghe nói đến Trần Văn Chái (Tư Chái) và các ông Đội. Nhưng từ sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thì trong gia đình Đức cố Quản Trần Văn Thành có hai người đóng vai trò quan trọng trong việc khai phá và mở mang làng Thạnh Mỹ Tây huyện Châu Phú sau này: Bà Nguyễn Thị Thạnh (vợ Quản Cơ Trần Văn Thành) và con trưởng nam: Trần Văn Nhu. Sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, gia đình Đức Cố Quản Trần Văn Thành về trú ngụ tại Bửu Hương các mà xưa kia Đức Cố từng khai phá. Vào thời buổi đó chưa có kênh xáng Vịnh Tre (kênh Tri Tôn do Pháp đào vào những năm 30 của Thế kỷ XX) thông vào. Con đường duy nhất đi vào Bửu Hương các lúc này chỉ có rạch Cái Dầu. Sống trong điều kiện khắt nghiệt, hầu như bị cô lập vớí bên ngoài. Nhưng người trong dòng tộc, gia đình và các nghĩa binh kể cả tín đồ trong đạo vẫn trụ được nơi miền đất Láng khắt ngiệt cũng là điều dễ hiểu. Dù không bạo động chống Pháp, nhưng tinh thần không hợp tác với giặc là quan niệm sống của người dân đất Láng vẫn được duy trì khá lâu đối với cư dân vùng đất mới. Lúc đầu nơi đây chỉ có vài gia đình. Về sau số dân trong vùng tăng lên . Nguồn gốc đều là dân tứ xứ đến lập nghiệp. Thực tế cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thất bại và bị đàn áp, nhưng dấu ấn ấy vẫn còn âm vang, người ngưỡng mộ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn đến. Cuộc sống của Ông Hai Nhu không chỉ bình thường, mà ông tiếp tục hành Đạo theo tôn chỉ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương: phát phù trị bệnh cho dân trong vùng và tiếp tục kết nạp tín đồ bằng phân phát lòng phái, với tờ giấy vàng với bốn chữ son: Bửu Sơn Kỳ Hương. Lúc bấy giờ việc phát phù trị bệnh lôi kéo tín đồ là việc làm nguy hiểm. Vì thực dân Pháp đã nghiêm cấm Đạo Lành (Đạo Thành) hoạt động. Nhưng ông Hai Nhu bất chấp nguy hiểm vẫn tiếp tục hành đạo. Nhiều người mộ đạo đến quy y và lập nghiệp. Xóm Láng ra đời. Ho sống theo tinh thần “đói ăn rau, đau uống thuốc”. Mương Ông – Bà ( để chỉ ông Hai Nhu và Bà Cố Quản) được đào để lấy nước uống và sinh hoạt, trồng dâu nuôi tằm. Dần dần dân trong vùng nạo vét nối liền với rạch Cái Dầu. Năm 1899 bà Cố Quản qua đời, ông Trần Văn Nhu tiếp tục chuẩn bị xây dựng Bửu Hương tự. Nhân ngày 22 tháng 2 ÂL (1913),  kỷ niệm 40 năm ngày cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thất bại, thực dân Pháp được mật báo, chúng bố trí lực lượng bí mật từ Châu Đốc xuống Cái Dầu và tiến vào đất Láng đàn áp Bửu Hương tự. Qua cuôc bố ráp ấy chúng bắt đi 83 người và triệt phá Bửu Hương tự. Cuối cùng chúng kết án 56 người và đài đi Côn Đảo 20 người. Ông Trần Văn Nhu trốn thoát (2). Ông được người thân cận đưa ra Cái Dầu định đến Campuchia, nhưng không rõ lý do nào đó ông quyết định về Cần Thơ và cuối cùng về Trà Bang (Rạch Giá) rồi mất tại đó năm 1914 (3).  Trong dân gian hiện nay có thói quen gọi Bửu Hương tự là chùa Nhà Láng. Vì sao có tên gọi ấy ? Theo lời kể các vị bô lão ngày xưa muốn lập làng phải có người đứng ra bảo lãnh và làng phải có đình thần. Vì vậy nhiều người trong đất Láng muốn hợp thức hóa với chính quyền thực dân xin phép lập đình làng Thạnh Mỹ Tây. Trên thực tế  là xây dựng Bửu Hương tự. Nhưng do quy mô chùa Láng lúc đó nhỏ, làm bằng tre lá. Theo quan niệm của Bửu Sơn Kỳ Hương là tu tại gia nên chùa nhiều khi là nhà. Bên cạnh đó có ý kiến cho rằng để tránh sự dòm ngó của chính quyền thực dân nên gọi chùa Nhà Láng. Khi chính quyền đến xét hỏi thì nói đây là nhà chứ không phải là chùa. Láng là xuất phát từ Láng Linh. Vì vậy khi nói đến ông Trần Văn Nhu thì dân trong vùng quen gọi là ông Hai nhà Láng. Suy cho cùng, đối với ông Hai nhà Láng không có những chiến công oanh liệt như Đức Cố Quản Trần Văn Thành. Nhưng ông đã để lại dấu ấn rất đặc biệt ở vùng Láng Linh không phải từ việc phát phù trị bệnh mà chính là hành động nhân sinh: quy tụ nhiều người đến trú ngụ và lập ra làng Thạnh Mỹ Tây. Ông là một trong những người chủ trương xây dựng Bửu Hương tự mà nay trở thành di tích được xếp hạng cho nhân dân trong vùng và khắp nơi đến chiêm bái và ghi ơn công đức của nghĩa binh Gia Nghị và Quản cơ Trần Văn Thành. Ông xứng đáng được ghi ân như những người có công khai hoang vùng  Láng Linh và làm tiền đề cho sự phát triển vùng sâu thuộc huyện Châu Phú sau này.”  Trích nguyên văn bài “Ông Hai Nhà Láng” của tác giả Võ Thành Phương đăng trên trang nhà của Bửu Sơn Kỳ Hương Nguyên Thủy.

  

 

/https://youtu.be/MRJ4mEkdppc

  
Pháp Âm #108

“Thản nhiên không vướng khỏi khấn hương

Tâm không cách biệt lý vô ngã

Thấy không không thấy mới tòa chương

Tâm đắc huệ khai không mà trụ

Trụ không không trụ giống khỏi ươn [ươm]

Vạn vật quanh ta đều báo ứng

Ngó mà không ngó lòng chẳng vương

Muôn nẻo khó khăn tâm làm chủ

Tâm ngó rất ngay ấy Phật đường

Phàm căn chưa dứt bao điều khổ

Bởi vì vạn vật kéo tai ương

Mắt huệ thần minh không ngẫm tới

Tự đến tự đi chẳng đo lường

Khi xưa các Tổ ngộ y pháp

Tâm tục như như huệ thông thương

Tâm bình tâm định khai sáu thức

Khỏi phải lo âu kiếp nắng sương

Một chiều ngáp mãi cỏ hồn thân

Ngày nay trung ương sắp đến gần

Chuyển xây thanh điển phận nhiệm vụ

Tịnh huệ trí khai lãnh mọi phần

Long mạch Nguyệt Thiên Huỳnh Kỳ dựng

Ngưỡng cửa non Đoài hội long lân

Qui mệnh sứ quân cơ Thánh Đức

Lược sách sử kinh định cung căn.

An phần mở rộng gia qui

Xuất thân xuất địa xuất nghi triều đình

Ngũ Nương xây chuyển thâm ân 

[Ngũ Nương Diêu Trì Đại Tài Phật Mẫu, Thanh Hoa Công Chúa, Chúa Tiên Cung Liễu Hạnh]

Quốc vương thủy thổ vạn lần thâm bâu

Thiên cơ gấp rút thiếu câu

Kỳ Hương vạch rõ đường hầu Nam Bang

Trung ương đất Phật An Giang

Tuồng đời cát phận lớp lang phụng hoàng

Cộng đồng vạch định Hà San

Gom câu xã tắc gìn đàng Tứ Ân

Ngồi buồn mà kiếm quạt mo

Nước xuôi nước ngược vo vo lướt thuyền

Tâm kinh nắm vận binh quyền

Quyết phò Quốc Đạo Thánh Tiên dựa kề

Cõi lòng xét thấy ủ ê

Nặng mang hai chữ giác mê giống nòi

Hồn Thiên chưa có chỗ ngồi

Lâm phàm hạ tục thiệt thòi vẫn vui

Bởi vì sanh chúng nhát mùi

Trầm luân khổ ải tới lui độ đời

Gặt hái nhiều niên bởi lịnh trời

Thâm trầm vẻ mặt giọng ầu ơi

Thân tướng đôi khi mang vất vả

Phật Tiên điểm họa bủa cảnh đời

Cửu Cung Thiên Lịnh ấn Kim Thơ

Hồn Thiên thui thủi chuyển nhiều nơi

Ngậm đắng ăn cay nhờ Phật lực

Giảm hồi nạn ách đợi chơi vơi.

Biển đời cá bống lại cá kèo

Ánh đèn thắp sáng cheo leo tỏ tường

Đường trôi dấu thỏ thương thương

Người tu lập pháp quê hương nhận nhìn.

Đời cũng xoay tận kiếp Huyền Thiên

Thương người tu tỉnh thị sĩ hiền

Lão khắp bước chân dang tay đón

Hướng Phật tâm từ mới đặng yên

Mang nặng lục căn không lối thoát

Chậm trể lục trần chịu ngửa nghiên

Nêu phận danh Thiên trải bao đời

Phàm tục giáng lâm quyết mở lời

Trọng trách hồn thân thương đại chúng

Người đắm lợi quyền nghĩa se lơi

Ngã Phật mầu linh đơn thuần ngẩm

Khó nổi định ra được chỗ ngồi

Nhất tâm bất loạn lòng không động

Chí cả tu mi mới kịp thời

Nam mô bồ tát tay niệm niệm

Sanh nghiệp kiếp này (phải) trả chiều mơi.”

 
   

https://youtu.be/CmwotGSYTek

 

Pháp Âm #109

“Trải mật nằm gan tâm cố lỳ

Kiếp trước đời sau chịu phúc ky

Quyết đem chơn pháp nơi Phật cảnh

Giao hứng nhân duyên tới đặng chi

Trời đất mênh mông tuy không bóng

Bởi thế vô hình chịu huyền vi

Lặng lẽ xác na âm thinh trổi

Phải cổ nghi binh thật từ bi

Lui gót phàm gian gìn Thích đạo

Lạc Thánh vi tường Dựng Hội Thi.”

 
 

 

https://youtu.be/jDUQv3Rr-aA

 

Pháp Âm #110

“Một tấm lòng già một xác thân

Ý Thiên tính Phật đã hầu gần

Chúng sanh cõi tạm cùng quý quyến

Khó chi họa đồ mệnh bần tăng

Thất tâm khai mở luồng quang nhãn

Hiểu kỷ chốn xưa Phật Thánh gần

Cứ mãi đeo mang vòng ngũ uẩn

Chẳng thoát lưới quanh phải nhọc nhằn

Cuộc đời hành đạo đem thân hiến

Ngấm ngầm luân chuyển dựng Phong Thần.

Trọn đời trọn kiếp hiến Phật môn

Trần tục ngươn tam chiếu thiên hồn

Định hướng ngã nhân lòng minh thệ

Ẩn ý tiêu diêu vượt Càn Khôn

Ô long xích phụng kè dang cánh

Đùm bọc pháp mầu lệnh Chí Tôn

Dầu giải nắng mưa an bình chí

Thanh nhật thiên y vượt sóng dồn.

Thâm trầm kết tựu quả kim giai

Mộc Thủy xây chung sức sống dài

Thổ phanh lan rộng bàn cờ tự

Thất Nương mầu nhiệm tới dựng rày  

[Thất Nương Diêu Trì Đại Linh Phật Mẫu, Hoàng Hoa Công Chúa, Thanh Nữ CungTây Vương Mẫu]

Cửu vị liên tòa khai chín phẩm

Thúc giả bốn phương Cửu Trùng Đài.

Mấu chốt then Thiên cửa an bày

Người vì trung nghĩa bởi ngày mai

Gởi tâm thuần thục công đức Phật

Đáp lễ Tứ Ân hướng sen đài

Tinh thần phổ hóa cơ duyên phận

Thanh đạo long môn trí tuệ khai.

Làng Trời lòng Phật lòng Thánh bủa

Nước tưới cam lồ tịnh ma ha

Qui cách mạch cung hương đăng quả

Minh triết bốn mùa tạng bách khoai.

Thầm lặng kỳ yên giữa phận mình

Thanh thiên bạch nhựt rõ lòng quyên

Tuổi đời phận đạo đều đúng buổi

Khác ý ngỏ làng lộ sân yên

Bổn phận bổn căn khuôn bổn cũ

Bổn tuồng thui thủi dạ triền miên

Thôn dã ngọ môn lòng thôn dã        

 Gói hết phận mình trải cành quyên.

Lướt song phong ba vượt biển đời

Chăm lo đạo quả Thánh trị đời

Hoa cảnh chậu vô thiên niên ái

Thoát chốn bể dâu phận y lời

Tranh thủ Quân Ân đa phương xử

Kiểng tiên trạm giả máy thay thời

Tam Giáo Quy Nguyên thời mở cửa

Hoạn sớm mưa Tần chịu ra khơi.

Gió chiều lồng lộng tiếng vo ve

Hồn đọng khuôn in đọc thơ vè

Tìm về tới đâu khai đường kẻ

Đỉnh cao cao quá muốn được nghe [nói về bài pháp]

Hạ giới giáng lâm thầm vời vợi

Dụng ý hồn tiên cảnh Thu Hè

Cuộc đời ngao ngán cam đành dạ

Tích sống xác phàm Phật chở che

Ai chẳng lãm tư thư hàng đọc

Liên hoàn tóc rối chẳng bày se

Ngắn ngủi thời gian trang hiền sĩ

Dựng bảng căng buồm có mấy ve

Gởi gió đợi mây trao kỳ dậy

Thông mạch nghìn thu phủi thế vè

Câu nói Đông Du điều phải trái

Tiêu diêu tự tại khó tránh nè

Trời chuyển mùa Thu đùng đùng báo

Nóng lạnh tứ thời ruộng trong se.

Thân phận đa phương cảnh sum vầy

Văn bài tâm ý tỏ rất hay [nói về bài pháp]

Tri cảm linh quang đồng nghĩa cử

San sớt bảo tồn cảm nghĩ hay

Hội yến luôn xây đâu màng xác

Trổi giọng chiều nay thấy chẳng sai.”

 
 

https://youtu.be/to7zUV_CrwI

  

Pháp Âm #111

“Khoảnh khắc hồn thiên cơ đổi hình

Khắc khai tướng mạo trí phương in

Đất nước giang san chờ thiện chí

Thiền tỏa huệ thông phá vô minh

Luân chuyển tuệ căn là phương thuốc

Cứu bao người lành độ chúng sanh

Họa đồ tướng sắc đổi luật Thiên

Dọn nước cờ Thiên chẳng đánh liền

Mầm đạo xoay quanh chờ thời vận

Đất ruộng biên thùy sắp thiêng liêng

Tan hoang ải nhất Già Lam trấn

Chúa Xứ nguyên nhung trấn ngự yên

Ngũ hành gom mối khai sức sống

Bủa đạo vô vi khắp trần miền

Đại hội Phật xưa Đức Hảo Hòa

Xa gần trăm họ khách phương xa

 Bước tới lễ nghi Ngài trọng trách

Tứ phủ tròn Ân dựng cờ già

Phật Thích Tây Sơn Thầy truyền đạt

Thánh đại quy y trọn đủ căn

Bốn loại Tứ Ân ơn đền trả

Tứ Diệu Đế đúng một màu Cha

Bền tâm chặt dạ nhứt trí tâm

Trí tâm chặt dạ chỉ tâm sầu

Sầu tư vướng bận sầu tâm lụy

Lụy vạn lần phải lắm cơ duyên

Cơ duyên tạo hóa khắp năm châu

Lòng ai khóc kẻ sầu bi thảm

Thảm kịch lụy trần đáng giá thay

Trí tâm nhất trí ra màn kịch

Đoạn cuối vở tuồng mới biết hay.”

   
  
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
2:14 CH(Xem: 518)
Pháp Âm 2020_45. HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG ban NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ TÂM KINH, gọi ngắn gọn là NGỌC MINH KINH. Phẩm HUYỀN THIÊN THƯỢNG TỪ ÂN KINH.
2:05 CH(Xem: 788)
Pháp Âm 2020_43. HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG ban NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ TÂM KINH, gọi ngắn gọn là NGỌC KINH. Phẩm Di Đà Đại Lực Diễn Ngọc Kinh tiếp theo.
1:23 CH(Xem: 861)
Pháp Âm 2020_43. HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG ban NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ TÂM KINH, gọi ngắn gọn là NGỌC KINH. Phẩm Di Đà Đại Lực Diễn Ngọc Kinh.
12:06 CH(Xem: 914)
Pháp Âm 2020_42. HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG ban NGỌC KINH. Phẩm DI ĐÀ KIM SẮC NHẠN KINH.
6:58 CH(Xem: 836)
Pháp Âm 2020_38. Huyền Không Thiên Thượng ban kinh NGỌC LỊCH THƯỢNG ĐẾ NHÃN KINH.
1:56 CH(Xem: 1135)
Pháp Âm 2020_36. Bát Nương Diêu Trì Cung Di Hoa Kim Hải giáng đàn.
7:36 CH(Xem: 937)
Pháp Âm 2020_36. Bát Nương Diêu Trì Cung Di Hoa Kim Hải giáng đàn.
2:26 CH(Xem: 1231)
Pháp Âm 2020_27 tới 2020_31.
7:39 SA(Xem: 1537)
LIỄU HẠNH (VÂN HƯƠNG THÁNH MẪU ĐỆ NHỨT) NHẮN GỞI NGÔ NHÂN KIỆT (THIÊN LONG SƠN)
3:08 CH(Xem: 1473)
Pháp Âm 2020_13 - Pháp Âm 2020_16.
9:39 CH(Xem: 1772)
Đại Lễ Vía Ngọc Hoàng.
10:07 SA(Xem: 1605)
Pháp Âm 2020_01 - 2020_04. KINH VẠN THÁNH.
3:57 SA(Xem: 2294)
Kinh Vạn Đại Mẫu Hiền và những bài Thánh Giáo khác.
1:10 SA(Xem: 1885)
KINH SÁM HỐI: HOÀNG MẪU SÁM, HOÀNG MẪU CHƠN KINH, SẤM GIẢNG PHẬT THẦY, HUYỀN MINH SÁM.
3:33 SA(Xem: 3009)
Ngọc Hoàng Tâm Kinh. Địa Mẫu Chơn Kinh.
3:16 CH(Xem: 3803)
Pháp Âm 252-254. Buổi làm việc của Lão Hà.
12:18 SA(Xem: 2885)
Pháp âm #250-251. Trợ Lý Vô Vi Của Lão Hà Làm Việc.
2:06 CH(Xem: 3186)
Pháp Âm 248-249, Huyền Không Thiên Thượng Ban Thi Chúc Lành Ngày Lão Hà Lên Đường Về Nước.
11:11 SA(Xem: 4189)
Pháp Âm 228-237. Cực Lạc Thuyết Tử Kinh.
10:26 SA(Xem: 4104)
Pháp Âm 210-216B. Mẹ Diêu Trì ban Tâm Kim Phật Mẫu cho Giáo Hội Thiên Trường.