BÌNH MINH ĐẠI ĐẠO 3

25 Tháng Mười Một 20225:30 CH(Xem: 208)


BÌNH MINH ĐẠI ĐẠO 3


bmdd 

BÌNH MINH ĐẠI ĐẠO 3

 

Lời ca tụng

Lời giới thiệu

Mừng Kinh

21) Đàn Khai Kinh 18-6-1970

Ngọc-Hoàng Thượng-Đế

Diêu-Trì Kim-Mẫu

Lý-Thái-Bạch

22) Đàn 6-9-1970

Ngọc-Hoàng Thượng-Đế

Thích-Ca Mâu-Ni Phật

Thái-Thượng Đạo-Tổ

23) Đàn 11-10-1970

Trọng-Ni Khổng-Tử

24) Đàn 13-12-1970

Diêu-Trì Kim-Mẫu

25) Đàn 6-3-1971

Tây-An Bồ-Tát

26) Đàn 8-5-1971

Gia-Tô Giáo-Chủ

27) Đàn 7-6-1971

Lê-Sơn Thánh-Mẫu

Đào-Hoa Thánh-Mẫu

28) Đàn 4-7-1971

Linh-Sơn Thánh-Mẫu

Bạch-Quang Thánh-Mẫu

Huyền-Linh Thánh-Mẫu

29) Đàn 1-8-1971

Lư-Sơn Thánh-Mẫu

Quan-Âm Như-Lai

30) Đàn 17-9-1971

Nguyệt-Đức Kim-Tiên

31) Đàn 17-10-1971 

Hải-Triều Thánh-Nhơn

Giờ thọ sắc Diêu-Trì để:

Lời ca tụng

KINH BÌNH-MINH ĐỆ-TAM

* * * * *

 

      * Quyển Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là một sản phẩm vô hình xuất hiện để xây dựng tinh thần con người tiến vào hàng Thánh-Triết.

      * BÌNH-MINH ĐỆ-TAM khêu lên ngọn đuốc của bao thời kỳ đã vượt qua ghi lại những bút tích từ ngàn xưa của các bậc xiển dương Tôn-Giáo.

      * BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là một khuôn viên bút tự, để soi sáng và ấn vào tâm làm một thức ăn nuôi dưỡng tinh thần, để cho mọi người đều quan sát và hấp thụ.

      * BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là một tiếng chuông thứ ba trổi dậy liên hồi, tiếng ngân vang dội, gợi lên cảm giác lòng người, như một lò lửa được cung cấp đầy nguyên liệu ngày ngày càng cháy tỏ.

      * BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là một công dụng lưu tồn hậu thế, để khai thác tinh thần học Đạo, từ hình nhi hạ học, tiến đến hình nhi thượng học, sung bổ tinh thần như tưới nước vào gốc cây, thân cây được trưởng dưỡng, mới kết thành quả đẹp, là bồi bổ tinh thần, vượt qua Thánh-Triết, đoạt vị Bồng-Lai.

 

NGUYỆT-ĐỨC KIM-TIÊN

Vâng lệnh tả đề:

Lời giới thiệu

KINH BÌNH-MINH ĐỆ-TAM

 

      Kính tỏ đến quí Đạo-Đức Danh-Nhân:

      Hân hạnh, kỳ ba được Đức Diêu-Trì Kim-Mẫu, sắc tứ Tam-Giáo-Tòa và các bậc Đại-Tiên hạ trần tả quyển BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO ĐỆ-TAM.

      Thọ lịnh tiếp Kinh ngày 15 tháng 5 Canh-Tuất (18-6-1970) tại Văn-Phòng Đại-Đạo số: 475/17 Hai-Bà-Trưng, Sài-Gòn, và hoàn Kinh ngày 29 tháng 8 Tân-Hợi (17-10-1971) cùng nơi ấy.

      Do bộ phận Hiệp-Thiên-Đài hỗn hợp Giáo-Hội Cao Đài Thống-Nhứt Trung-Ương, Ban Chưởng-Quản và Ngũ-Sắc Tường-Vân Diệu-Ngọc đồng nguyện cầu nghinh tiếp.

      Nhận xét:

      Quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là tăng thêm một thức ăn tinh-thần do những vị Giáo-Chủ Tam-Giáo từ bao thế kỷ chuyển cơ ghi lại. Quyển Kinh được xuất hiện như khêu thêm một ngọn đuốc vô hình rực tỏ, để giúp cho người đời, thay vào một ánh sáng xẹt tia trong lúc đang đi giữa trận mưa âm-u gào thét.

      Được vượt qua khỏi vòng vây phong vũ, đang hoành hành giữa cảnh đêm u, nhờ tia sáng ấy xẹt vào, lượn bước theo đây mà thoát ra khỏi cảnh rùng rợn, để trấn an được nhịp lòng đang sợ hãi.

      Trong cảnh ngộ đã xảy ra, những khách đồng hành không thể không chấp nhận tia sáng ấy đã rọi đường dừng bước quày chơn, mà mãi tiến thẳng sâu vào chỗ tối tăm âm u, rượt theo tiếng gọi tít mù của thần sầu quỉ khóc.

      Điều đáng chú ý: những bậc Đại-Tiên như: Đức Nguơn Thỉ báo đàn BÌNH-MINH ĐỆ-NHỨT, Đức Liễu-Nhứt Chơn-Nhơn báo đàn BÌNH-MINH ĐỆ-NHỊ, và Đức Hải Triều Thánh-Nhơn báo đàn BÌNH-MINH ĐỆ-TAM. Ba vị Đại-Tiên còn phải thọ sắc Diêu-Trì hạ trần lập quả. Đó là những gương chói sáng lưu lại cho đời noi theo mà lập công tu Đạo.

      Đây là một phương-pháp tỉnh thế cho người đang theo dõi tu thân, cần động viên tinh thần, để thừa hành trách nhiệm, hậu thế dương danh.

 

BAN CHƯỞNG QUẢN TRUNG ƯƠNG

Mừng Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM

* * * * * * *

BÌNH luận Văn chương khảo sát tầm,

MINH quang Phòng tụ, thị nhơn tâm,

ĐỆ tam Đại-Đạo truyền Kinh báu,

TAM giáo Đạo căn đắc diệu thâm.

CỨU thế truyền tin tân pháp chánh,

KHỔ công khai triết-lý xa xăm,

NHƠN luân Kinh thọ minh thông đạt,

SANH lộ báu châu cố rán tầm.

      Quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM ra đời vào thời kỳ mạt pháp, chiến họa lan tràn khắp cả Đông-Dương, không nơi nào được yên ổn, sự sống còn của thế hệ trẻ không có tương lai bảo đảm. Sự đau khổ rên than xung lên tột đỉnh làm cho Thầy Mẹ xót thương những đứa con hiếu thảo gặp hồi binh biến.

      Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM ban truyền, trong hồi chấn động nơi cõi trần gian hỗn loạn, hầu ngăn chặn lằn bạo động đương cơn bộc phát lẫy lừng, hộ trợ và thoa dịu những vết thương lòng cho nhơn loại trong hồi gặp phải.

      Bản chất Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM là một khuôn phép mầu nhiệm bằng sự thật, uyên thâm diệu bác, bắt nguồn từ lý độc nhứt hóa sanh, có công dụng lớn lao cho thuyết duy nhân ở cõi sắc-giới, mà chỉ có phần tử nguyên căn hữu duyên, tấn hóa trình độ cao học mới thấu triệt nhận thức được chơn-lý siêu-nhiên.

      Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM hướng dẫn về nguồn gốc Đại-Đạo, là phương tiện chỉ đường cho người tu chơn, cố gắng kiên nhẫn thức tỉnh cõi lòng, mới có ấn tượng được Bửu Kinh, nhược bằng xem qua không hấp thụ giá trị quyển Kinh thì rất uổng công phu của các Đấng Thiêng Liêng đã dày công dùng huyền-cơ diệu-bút mà giảng giải cho chúng sanh trong thời loạn-lạc.

      Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM xuất thế trong buổi nguơn-hạ thiên địa tuần huờn, cơ Tân-Dân Minh-Đức sắp triển khai hóa hoằng đưa người thiện căn được vẹt ngút mây mù, ngộ đặng chơn truyền chánh pháp, mà người chơn tu được hấp thụ ở mút con đường tu học thì cảnh Niết-Bàn sẽ đến với chư liệt vị.

        Kính,

        VĂN PHÒNG ĐẠI-ĐẠO

BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO III

 

ĐÀN KHAI KINH

Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 15-5 Canh-Tuất (18-6-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Kim-Quang

____________

 

 THÁNH TỰA

 

Thi:

Thủy mỗi tương giao chuyển Đạo Huỳnh,

Xa đồng nguyệt hiện ảnh Bình-Minh,

Nhĩ tương khẩu thuận vương đầu ngự,

Đại nhứt nan tầm thị chúng sinh.

      Kế tự, chiết tự, khả tri.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư hiền đồ.

      Giờ nay Tôn-Sư thọ lịnh DIÊU-TRÌ báo đàn rọi điển quang trần thế để triệu hồi chư Phật, Tiên hạ bút tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM cho hoàn thành nguyên bộ.

      Chư hiền đồ hữu phước thay được Đại-Từ ân xá tiếp quyển Bình-Minh ban hành để lập công bồi đức trong buổi đời tàn thế tận. Đó là một kỳ công vĩ đại.

      Vậy chư hiền đồ thành tâm tiếp lịnh CHÍ-TÔN hạ trần ban Thánh-Tựa. Tôn-Sư báo đàn, xuất ngoại tiếp điển.

(Tiếp điển:)

Thi:

NGỌC sắc HOÀNG cung đã xuất hình,

THƯỢNG triều ĐẾ ngự tả Bình-Minh,

Kim môn Viết luận quyền thiên hạ,

CAO khải ĐÀI danh chuyển thế tình.

Giáo huấn Đạo mầu xây Thánh-Đức,

Nam bang Phương hướng dựng toàn linh,

Hạ nguơn thế hệ dân vi thiện,

Kỳ mạt Tam Tòa hội chúng sinh.

 

      NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ — Thầy, Cha linh hồn mừng chung các trẻ. Các con an tọa nghe Thầy diễn tả.

      Nầy các con! Cuối thế-kỷ hai mươi tuần hoàn chuyển lai, Thầy hạ trần tá danh hiệu CAO-ĐÀI để tùy phương độ tận. Đó là con đường cứu rỗi cho vạn linh sanh chúng phục hồi phẩm vị.

      Vậy giờ nay, vì lòng hiếu đạo của các con trần biết hy sinh cho Đạo cả, nên Thầy hạ điển ban Thánh-Tựa quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM để tròn theo luật Thiên-thơ tiền định.

      Nầy các con! Bốn chữ “BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO” Thầy đã sơ giải rồi; để cho các con ý thức hầu khai thác thêm những gì sơ-sót; nay Thầy lược qua để gợi lại lòng con, trong lúc đêm tàn ngày lụn, hầu giữ chặt được tâm hồn để theo đuổi đến ngày thành công nền ĐẠI-ĐẠO.

Thi:

Tuyến quang cửu khiếu thị cao nhân,

Bạch-Ngọc ly cung tá thế trần,

Thượng đẳng Tam-Kỳ khai Thánh-Thể,

Trung thừa hạ phẩm hóa hoằng ân.

Triêu văn ư đạo tầm chơn lý,

Tịch vãng âm phù phế nhục thân,

Tức kiến liên đài linh điển ngự,

Tại tiền cổ phúc phục Tân-Dân.

      Chú thích:

      - Một luồng điển quang từ trong cửu khiếu phát xuất đầy tinh vi chiếu sáng. Đó là của bậc cao-nhân siêu-đẳng hạ trần thay thân giác thế.

      - Một điểm linh-quang chia lại trần trước kia là từ Bạch Ngọc-Kinh tá thế. Nay Thầy là Đại-Linh-Quang hạ trần hòa linh điển thế gian để hướng dẫn các con trở về bổn vị.

      - Độ thế gian kỳ ba khai nền Đại-Đạo, lập thành Thánh Thể để cho mọi từng lớp các con chung tay xây đắp.

      - Kỳ ba đại xá mở rộng cửa Thiên-môn để cho các con tùy theo đẳng cấp từ bậc thượng, trung, hạ thừa đều được hưởng hồng ân ban bố.

      - Mỗi chơn linh đều được nghe giảng giải đạo-lý khắp trần để tỉnh ngộ lúc ban mai mà thọ truyền chơn pháp.

      - Hạnh phúc thay, dù cho các con trần hấp thụ đạo lý ban mai, chiều có đến cảnh âm phù: đó là nhục thể của các con bị hủy hoại mà thôi.

      - Còn điểm linh quang trở về ngự cảnh Liên-đài, đó là vì lòng các con không xa rời Đạo cả.

      - Khi căn trần đã mãn, các con về ngự cảnh Liên-đài phục vị. Những con còn lại hưởng cảnh ngậm cơm vỗ bụng dưới thời Minh-Đức Tân-Dân Thượng-Nguơn tái tạo.

      Vậy giờ nay Thầy giảng giải cho các con tri tường. Thầy ban ân lành chung, Huỳnh-Hoa tiếp đàn. Thầy hồi Bạch-Ngọc.

      Thăng

      NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ

 

 

  Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 15-5 Canh-Tuất (18-6-1970)

Pháp Đàn: Bạch-Liên-Bạch * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

____________

(Tái cầu:)

      VÔ-CỰC TỪ-TÔN DIÊU-TRÌ KIM-MẪU — Mẹ linh hồn, Mẹ ban ân lành chung cho các con trần thế được hưởng cảnh thái bình lạc thú.

Thi:

 sanh hữu dưỡng khí không phù,

CỰC thạnh dương thành huyết mạch lưu,

TỪ tốn ôn hòa cân cốt thể,

TÔN nghiêm linh điển chiếu bì phu.

DIÊU hồn vạn loại qui Bồng-đảo,

TRÌ chí vận hành chuyển vạn thù,

KIM khuyết huyền vi phân trược giáng,

MẪU ban sơn hải luật cang nhu.

      Mẹ miễn lễ các con.

      Nầy các con, giờ nay vì thương các con nên Mẹ thúc đẩy các con vận hành đạo-đức cho kịp thời, nên Mẹ hạ trần ban cho các con một luồng điển Tiên-Thiên để hấp thụ hầu cởi mở tâm phàm bớt cơn phiền não mà trở về ngôi xưa vị cũ.

      Nay Mẹ dụng huyền linh để vận dụng tinh thần các con gấp-rúc cho kịp kỳ công quả; hơn nữa, các con cần phải làm tròn bổn phận đối xử người đời đang chung đụng. Vì tình thương nhơn loại, các con cần tìm những điều thích nghi giúp người tùy theo khả năng của các con. Đó là điều hành thiện mà các con đã in sâu vào nơi trí óc. Ngoài ra các con cần lập đủ tam công thì mới hãnh diện là nơi trần làm tròn trách nhiệm vì bổn phận.

      Nay, Mẹ hạ trần ban cho các con quyển Kinh BÌNH-MINH ĐỆ-TAM mà Đức Chí-Tôn vừa tả đề Thánh Tựa.

      Vậy các con thành tâm nghe Mẹ diễn tả:

Thi:

Nhứt phiến tâm trung Đạo phát sanh,

Huờn nguyên bổn thể đắc lưu hành,

Thiên-thu bán mộng qui nguyên tánh,

Bá-tuế vạn đầu nhiệt huyết thanh.

      Thích:

      - Một tấc lòng cang-trực của các con đầy đủ tinh thần tin tưởng, thì Đạo phát sanh dẫy đầy nơi tâm. Như vậy, lòng của các con đã chuyển luân theo lòng Mẹ vậy.

      - Các con đã biết rằng phần bản thân xác thịt nầy là giả tạm do khí huyết tinh-ba nhục thể cấu tạo không bền vững. Các con hãy nhìn điểm linh tồn tại kia mà vận dụng bản thân nầy trở thành điểm linh, để vận hành khí huyết trong cơ thể được điều hòa và luyện huờn nguyên chánh giác.

      - Muốn đạt Đạo, các con cần thật hành chánh pháp, tùy theo duyên kiếp mà hưởng lấy. Dù cho nơi trần thế các con có hưởng được ngàn thu thì cũng là chiêm bao nửa giấc.

      - Dù cho các con có sống đặng trăm tuổi thì cũng không hưởng được trọn đường lạc thú. Đó là những con đầy đủ hạnh phúc. Còn các con thiếu hạnh phúc thì phải chịu một bản thân đầy lam-lụ, vậy nên tinh thần bị sa-sút, lắm lúc phải điên cuồng bâng-quơ mờ kém.

      Vậy các con cần hiểu.

Bài:

       Túi Tạo-Hóa vô hình phát xuất,

       Từ khai thiên Vô-Cực chí linh,

              Chuyển qua Thái-Cực khai minh,

Âm dương lưỡng tánh vô tình phát sanh.

       Khí âm dương lập thành nhựt dạ,

       Vận tam-tài biến hóa tam-tiêu,

              Tứ-Tượng vận chuyển phiêu-phiêu,

Cang nhu thượng hạ luật điều không gian.

       Chuyển Ngũ-Hành ôn hàn thử nhiệt,

       Xây Bát-Quái thời tiết điều hòa,

              Đông Tây Nam Bắc phân ra,

Cùng là tứ hướng một nhà chuyển luân.

       Không khí vận không ngừng thế giới,

       Phần vô-vi trọng tải muôn vàn,

              Động tịnh di-dịch chuyển sang,

Gánh cân trái đất muôn ngàn vần xoay.

       Tam tinh ngự liên-đài chiếu sáng,

       Nhựt, nguyệt, tinh căn-bản càn-khôn,

              Ngũ-tinh xuất thế bảo tồn,

Khai thành thất chánh triêu hôn định phần.

       Khai Thượng-Nguơn, Thánh Thần hạ thế,

       Đời Thánh-Đức phổ tế dân sanh,

              Cổ nhơn tợ thú tâm thành,

Hữu đại Thánh-Đức, tại hành Thánh-tâm.

       Nên dụng đức hóa tầm vạn vật,

       Cảm hóa nhơn chơn thật lòng nhơn,

              Nguyên-căn hạ thế tuần huờn,

Tinh thần vững đạt linh sơn phản hồi.

       Chuyển Trung-Nguơn trong thời tân tiến,

       Vì đỉnh chung vận chuyển tâm linh,

              Tạo nên cảnh vật bất bình,

Tạo điều tranh đấu mất tình ái tha.

       Vì lòng của con Ta lợt Đạo,

       Dụng trí khôn cải tạo khuôn viên,

              Trung-Nguơn khắp cả trần miền,

Đẩy xô vật chất tranh quyền uống ăn.

       Nhưng cũng còn bản năng đạo-đức,

       Trọng cang-thường từ bực thấp cao,

              Luân-lý tá thế đề trao,

Giữ gìn qui củ chưa sao phế tàn.

       Chuyển Hạ-Nguơn muôn ngàn khổ hải,

       Vì kim-nhơn hình thảy tợ nhơn,

              Thú tâm bất trắc lai huờn,

Khiến cho tranh đấu thua hơn bại thành.

       Dùng mưu chước phân ranh chia giới,

       Nào trí, ngu quyền lợi riêng nhau,

              Mới sanh nhĩ-ngã đồng bào,

Cùng chung huyết-quản, con nào biết chi!

       Lòng tham-dục, sân, si, ái, nộ,

       Con khôn-ngoan tầm chỗ dung thân,

              Biết mình sống hưởng nơi trần,

Nào ai đau khổ não cân mặc tình.

       Vì như thế phát sinh cách biệt,

       Lòng càng xa, khí huyết càng nung,

              Dẫn đường chỉ lối hãi-hùng,

Đua tranh vật-chất vẫy-vùng phát sanh.

       Vì chung đỉnh xây thành xác thịt,

       Vì lợi quyền lấp bít bể dương,

              Vì quyền cao tột tứ phương,

Muốn bầu vũ-trụ một đường tóm thâu.

       Biết bao phen Đạo mầu mở hội,

       Giải nghiệp trần sớm tối gỡ ra,

              Nào được mấy, hỡi con Ta,

Mấy con nghe tiếng thi ca giác đời? !

       Xâu chuổi hạt giải đời oan nghiệt,

       Niệm Bồ-Đề mài miệt sử kinh,

              Rồi ra cũng mất điểm linh,

Hỏi sao thế ấy mẫu tình làm ngơ.

       Lòng từ bi như tờ giấy trắng,

       Đã hiện hình tâm chẳng in như,

              Khẩu Phật, tâm xà, tội dư,

Khẩu xà tâm Phật, huờn hư dễ dàng.

       Nay chuyển thế, Đạo tràng khai hoát,

       Cho con Ta hỷ-lạc thừa hành,

              Tùy theo phong hóa lập thành,

Cao-Đài Đại-Đạo chánh danh Ngọc-Hoàng.

       Truyền thế-giới khai tràng huấn-giáo,

       Cho con trần cải tạo tâm tư,

              Kỳ-ba Đạo mở bấy chừ,

Ngọc-Hoàng tá thế Thiên-thư đề rành.

       Chuyển Đại-Đạo lập thành Nam-Việt,

       Dụng huyền linh giáo thuyết con trần,

              Lập đời Minh-Đức Tân-Dân,

Chuyển nguơn tái tạo nơi trần phục nguyên.

       Khai kỳ hạ trần miền thất ức,

       Dựng đời tân tri thức lo toan,

              Niết-Bàn lập tại trần gian,

Đâu còn như trước Niết-Bàn cõi không.

       Hỡi nầy trẻ, hội đồng gót Thánh,

       Đặng hưởng nhờ trong cảnh Thượng đời,

              Tại trần nầy hỡi con ơi!

Hiền nhân Thánh-Triết chỉnh đời thuần phong.

       Nạn tiêu diệt tràn đồng là thế,

       Để lọc lừa hậu kế giáo dân,

              Thay Thượng-Đế, bậc Thánh Thần,

Chuyển xây thế hệ vĩ nhân trị đời.

       Vì luật định trong thời khai hội,

       Chuyển BÌNH-MINH tiếp nối ĐỆ-TAM,

              Phái chi ứng dụng truyền ban,

Trong nền Đại-Đạo, Ngọc-Hoàng chuyển ra.

       Hỡi nầy trẻ, con Ta phàm tục,

       Mẹ giáng trần trong lúc BÌNH-MINH,

              Chuyển khai Thánh-Triết toàn linh,

DIÊU-TRÌ hạ bút khai minh con trần.

       Chớ bê-tha, ân-cần trau luyện,

       Nên phá mê thực hiện đại đồng,

              Chuyển xây máy Tạo lưu thông,

Luật tuần-huờn định giáp vòng gặp con.

       Thế đã tận, đâu còn chờ đợi,

       Đợi chờ con cho tới tan tành,

              Ai gìn, ai giữ thân sanh,

Ai nuôi, ai dưỡng trưởng thành đó con?

       Hay Mẹ đây lo toàn cho trẻ,

       Lúc bào thai điển Mẹ bố ban,

              Đến khi nhụy nở khai-quang,

Chăm nom săn sóc lo tròn cho con.

       Vì tình nặng Mẹ còn trách nhiệm,

       Hạ điển quang hội diện cùng con,

              Dẫn đi từ bước chiều lòn,

Lòn theo sở dục dạy con nên người.

       Con lớn lên tốt tươi tâm chí,

       Dụng huyền linh đạo-lý dạy con,

              Ngày đêm Mẹ luống mỏi-mòn,

Khác nào xác thịt cùng con rẫm rờ.

       Con không biết, bơ-thờ với Mẹ,

       Con đọa đày lòng Mẹ nát tan,

              Nơi trần nặng nợ phải mang,

Giải ra nhờ Đạo, trái oan kiếp nầy.

       Dứt đi con, nam tài nữ liệt,

       Dứt đi con, mài-miệt tu hành,

              Bền lòng nhơn-đạo cạnh tranh,

Diêu-Cung Mẹ rước điển lành con Ta.

       Nếu như thế đọa sa mãi mãi,

       Điểm linh-quang thừa-thãi luân trầm,

              Như vầy biết mấy ức năm,

Con Ta hạnh ngộ Mẹ tầm đến con!

       Đây nhắc lại ngòi son Mẹ điểm,

       Cho con Ta tầm kiếm tâm mình,

              Hiếu nghĩa danh lợi liệt trinh,

Công danh phú quí bao nghìn đề danh.

       Hiếu: Tăng-Sâm lòng thành trọn hiếu,

       Hiếu danh thơm nghèo chịu hiếu tròn,

              Hiếu hiền-triết, đề bảng son,

Hiếu truyền hậu thế các con nên gìn.

       Nghĩa: Phù-Mông danh thinh nghĩa cử,

       Nghĩa: Nghệ-Sư gìn-giữ nghĩa Thầy,

              Nghĩa đành dụi tên xạ ngay,

Nghĩa lo tròn vẹn nghĩa nầy Mẹ phê.

       Danh: Ngô-Khởi sát thê cầu tướng,

       Danh còn nêu bốn hướng chê bai,

              Danh nầy ô-trược lắm thay!

Danh mê-muội ấy nào ai học đòi.

       Lợi: Cổ-Hồ khá soi để tránh,

       Lợi mổ bụng để lãnh ngọc châu,

              Lợi là một việc làm đầu,

Lợi như thế ấy, Hồ âu banh lòng.

       Liệt: Tề-Phụ thờ chồng liệt nữ,

       Liệt cương-tâm gìn giữ Mẹ chồng,

              Liệt đành thọ ngục ba đông,

Hàm oan dấy động, Trời không mưa rày.

       Phú: Thạch-Sùng giờ nay chi xiết,

       Đến ngày cùng luyến tiếc được đâu,

              Chắt lưỡi suốt cả đêm hầu,

Nằm trong xó kẹt có đâu thanh-nhàn.

       Bữa muối dưa phận an là đủ,

       Gương nêu kia bia trụ sử còn,

              Hồ-Cầu, Yến-Tử mỏi-mòn,

Kiệm như thế ấy, bảng son nào đề.

       Gương kim cổ danh đề lưu lại,

       Cho con Ta thời đại lỗi thường,

              Kìa như Mạnh-Quang, Lương-Hường,

Tề-mi cử-án phô-trương nghĩa tình.

       Như Tô-Huệ vẹn gìn dệt gấm,

       Vì tình nhà mắc cẩm Hồ-văn,

              Dâng lên chuộc tội ấy hằng,

Sử đề lưu tích một lằn sáng soi.

       Kìa Châu-Thị rọi soi để tránh,

       Cùng Mãi-Thần trong cảnh gia bần,

              Tùng quân ngạ tử, xuất thân,

Thủy tư phục thổ nếu cần năng thâu.

       Thương con trẻ trần hầu đau khổ,

       Bị kéo lôi vào chỗ nê-hà,

              BÌNH-MINH tiếp nối quyện ba,

Giải ra tột lý con Ta ghi lòng.

       Ngày hội diện còn không xa lắm,

       Con hỡi con! Mẹ tẩm cam-lồ,

              Nhành dương rải nước linh hồ,

Mát lòng con trẻ bồi tô nơi trần.

       Khôn các con thay thân hướng đạo,

       Khôn dìu nhau về đảo Bồng-Lai,

              Khôn đạo-đức, sắp an-bài,

Khôn dìu-dắt bạn Thiên-Thai trở về.

       Khôn chỉ đường, nào quê nào cảnh,

       Khôn vạch ra để tránh để đi,

              Khôn đừng lợi kéo danh trì,

Khôn lo đạo-đức, con thì khôn-ngoan.

       Khôn nhìn qua tâm can bào-tế,

       Khôn rọi vào tỳ phế nơi lòng,

              Khôn cần quan-sát tóc lông,

Khôn nhìn thân thể ngoài trong khác nào.

       Khôn hàn-gắn, máu đào ngưng chảy,

       Khôn thương nhau thì phải giúp nhau,

              Khôn-ngoan là điển Mẹ trao,

Khôn đừng lấn dại, thể dao cắt mình.

       Khôn phải tránh đời tình oan-trái,

       Khôn hại nhau, khôn ấy là không,

              Khôn như thể các con đồng,

Khôn cần trả sạch trần-hồng trái-oan.

       Dại mà biết hành-tàng đạo-đức,

       Dại như vầy Tây-Vức trở về,

              Dại mà còn biết vị quê,

Dại như thế ấy trọn bề hiếu trung.

       Dại các con nhìn cùng xương thịt,

       Dại bì phu phân-tích được đâu,

              Dại tránh hố thẳm hang sâu,

Dại khờ đạo-đức làm đầu trở khôn.

       Dại mà biết bảo tồn linh tánh,

       Dại không nao cái cảnh khổ trần,

              Dại mà không chuộng bản thân,

Dại điều-khiển được, con trần mấy ai.

       Dại nhìn lại mũi tai hình hạng,

       Dại xem qua bóng dáng ngoại nhân,

              Dại mà biết giữ chơn-thần,

Dại nhìn có một nơi trần linh-quang.

       Dại un-đúc hành-tàng siêu đọa,

       Dại tế-cô trợ-quả thịt xương,

              Dại mà còn biết rau tương,

Dại khôn, khôn dại, con tường đó con.

       Đây kết luận ngòi son Mẹ để,

       Lòng chơn thành tại thế con Ta,

              Đạo là một gốc chia ba,

Lòng thành tín hiệp, con đà ghi tâm.

      Nầy các con, các con nên lưu tâm về phần hiện tại. Cuối Hạ-Nguơn cơ đời tận diệt, các con được xuất hiện nơi cõi tạm nầy là một điều quí hóa thay! Đó là cơ hội các con lập công bồi đức để tự lập mình về nơi ngôi vị. Sự tiến hóa về phẩm vị là do bản thân phàm của các con tại thế như vượt thuyền qua bể khổ, muốn vượt qua bể rộng mênh mông mà không dụng thuyền thì làm sao các con vượt đặng? Cũng như muốn vượt qua cõi phàm tục nầy, các con phải cần bản-thân chuyên-chở linh-hồn về nơi cõi hằng sống mà các con đang tạo nguồn sống ấy. Vậy các con cần phải giữ bản-thân nầy trong một đoạn đường để được trở về phẩm-vị, các con cần ghi nhớ.

Ngâm:

       Điển hồi Mẹ giã từ con,

Cõi trần ở lại lo tròn công phu.

       Vẹt ra cho khỏi ngút mù,

Bình-Minh nhớ lấy trời thu ánh vàng.

       Trời xuân lố bóng sắp tàn,

Cành dâu điểm lá úa vàng ánh thu.

       Nắng chiều rọi xuống phù du,

Đứng đầu chinh xế trời thu gió nà.

       Trống nhồi Bát-Nhã bôn-ba,

Tiếng chuông rút điển Diêu-Tòa Mẹ thăng.

 

            Giờ Mẹ ban ân lành chung các con ngày Lễ kỷ-niệm. Tiếp cầu Ngân-Hoa. Mẹ ngưng bút. Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 15-5 Canh-Tuất (18-6-1970)

Pháp Đàn: Huyền-Vân-Thánh * Đồng Tử: Ngân-Hoa * Độc Giả: Huệ-Đăng

____________

(Tái cầu:)

      TRƯỜNG-CANH THÁI-BẠCH — Bần-Đạo mừng Thiên mạng đàn tiền, chư hiền đệ muội an tọa nghe Bần Đạo khải.

      Giờ linh Bần-Đạo thọ lịnh DIÊU-TRÌ KIM-MẪU chuyển ngọn linh-cơ tả quyện BÌNH-MINH ĐỆ-TAM, đây là kỳ công của chư hiền trên bước đường hành đạo mà được ân huệ như giờ đây. Bần-Đạo dụng bút linh-thiêng chuyển thành đề thi bất diệt lưu lại quyển BÌNH-MINH muôn thuở.

Thi:

Nhìn cảnh thiên-nhiên rất toại lòng,

Then gài cửa đóng khắp ngoài trong,

Gió mây xô đẩy không sờn núng,

Sương tuyết phủ đè, chẳng nản lòng.

Tác động khí thiên cung thế-giới,

Vận hành mưa móc cấp tây đông,

Phong điều thể có tay xoay chuyển,

Võ thuận dường quay máy kéo vòng.

Hựu:

Kéo vòng nhựt nguyệt chuyển luân xa,

Âm tụ dương thăng dựng giái-ba,

Tinh-tú điều hòa ôn lãnh nhiệt,

Cang nhu thạnh vượng định san hà.

Ngao đầu thủy hỏa sanh tương khắc,

Ngạn vĩ mộc kim ký tế hòa,

Nam Bắc phân minh xây Bát-Quái,

Tây Đông định vị đạo do tha.

Hựu:

Tha-thiết lòng nầy hỡi giái-ba,

Nhìn xem thế-giới cõi ta-bà,

Bao lằn không-khí quay như chóng,

Mấy lớp mây dày quậng đảo qua.

Cảnh vật nô đùa, chim nhịp cánh,

Tiếng reo sáo dậy khắp rừng hoa,

Trống nhồi Bát-Nhã đưa lòng chánh,

Chuông giục u-minh nhốt ý tà.

Hựu:

Tà bóng chim chiều lăng-líu vang,

Trống nhồi nội điện khắp cung đàng,

Mai đơm mấy độ vàng tươi thắm,

Cúc trổ màu nâu ửng thạch bàn.

Vịnh khúc ngâm nga nghe giéo-giắt,

Chày sanh khua khẻ nhịp hòa vang,

Tiêu thiều trổi giọng miền âm các,

Nhạc tấu kinh thiên giữa bệ hoàng.

Hựu:

Bệ hoàng rực-rỡ luật thiên-nhiên,

Hoa nở bốn mùa tạo cảnh Tiên,

Sớm đứng ra vào thi phú luận,

Chiều ngồi lui tới luyện cờ Tiên.

Trà ngâu đôi chập trêu lòng tục,

Rượu cúc một bầu cợt dạ Tiên,

Thử hỏi cảnh nầy ai thưởng thức,

Hay là quanh-quẩn mãi trần miền.

Hựu:

Trần miền vây chặt nhốt thân sanh,

Lăn-lóc bốn mùa bởi lợi danh,

Thích-thú nhứt thời sao chác lấy?

Thanh-nhàn muôn thuở chẳng toan hành.

Bùa mê tửu sắc, gầy thân quí,

Độc dược khí tài, diệt thể sanh,

Tẩy não khách trần đang hấp hối,

Vạch đường hồi phục tử huờn sanh.

Hựu:

Huờn sanh ngộ Đạo chuyển BÌNH-MINH,

Dựng lại nguơn tam cứu thế tình,

Thức tỉnh huỳnh-lương, toan gỡ tháo,

Giấc nồng kê-mộng, rõ phù sinh.

Võ môn bao lượt còn rơi lại,

Tam cấp vượt qua toại ý mình,

Cử bút huyền linh khai ám lộ,

Vận hành cơ pháp quyện BÌNH-MINH.

Hựu:

BÌNH-MINH bế mạc hội Long-Hoa,

Chấn động càn-khôn thế-giới hòa,

Răn dữ để cho đời cải thiện,

Thưởng lành chuyển giáo Đạo Kỳ-Ba.

Thiên-điều ghi sẵn cần lưu dạ,

Định luật ấn hành khá vượt qua,

Cõi giác sẵn đường lên Cực-Lạc,

Luân trầm không nẻo xuống nê-hà.

Hựu:

Nê-hà vực thẳm khổ linh-quang,

Cất gánh bôn phi đến giữa đàng,

Dừng bước bên lề xem nản chí,

Sa chơn đường lối phải sầu than.

Tinh-thần thiết-thạch vô ân oán,

Khí tiết thư hùng diệt trái oan,

Cõi tạm dật dờ, chim né ná,

Người chung thưởng thức, cá ao vàng.

Hựu:

Ao vàng sen trổ nực mùi hương,

Nước biếc mây ngăn núi chặn đường,

Non gộp dạo chơi thong-thả bấy,

Bể trần vun-vút quá tư-lương.

Tiết hè nhiệt-độ pha tia nắng,

Đông lộ âm hàn điểm đích sương,

Nhơn vật nên hình ai nắn chạm,

Bướm hùm dệt gấm thế tri tường.

Hựu:

Tường giọt Hồng-Hà nước đẩy xua,

Nghe bên thuyền vách tiếng nô-đùa,

Thi ngâm một vận đang lưu-luyến,

Phú tả đôi bài khỏa tiết mùa.

Trăng chóa bóng, chau-mày nhíu gọng,

Rượu bầu lưng-lắc mí càng khua,

Ngửa nghiêng sóng bủa trường giang hận,

Kìa máy Thiên-cơ chớ bỡn đùa.

Hựu:

Bỡn đùa trăng chiếu tỉa đơm bông,

Soi khắp rừng hoang lẫn núi sông,

Chim chợt la vang hòa tiếng động,

Gà tan giấc trổi nhịp khua lồng.

Thân hình hữu thể ngồi trơ mỏi,

Cảnh vật vô tình đứng thỏa mong,

Chờ dứt khắc trường canh trở giọng,

Màn sương banh xé lộ vầng hồng.

Hựu:

Vầng hồng vừa lộ ánh Bình-Minh,

Vẹt tấm màn sương chiếu bóng huỳnh,

Tia sáng xẹt ra soi địa trạch,

Phóng quang phản ảnh cõi Thiên-Đình.

Ôn-tồn sưởi ấm đêm hàn tịch,

Dương thuận âm sanh vượng thế tình,

Tác động khắc thì luân chuyển mãi,

Nhịp lòng chưa thỏa bóng hồng chinh.

Hựu:

Hồng chinh cuộc thế cũng đồng y,

So sánh tương quan có khác gì,

Một kiếp mỏng mai trên bể hoạn,

Đôi điều oan-trái trả rồi đi.

Mảy lông chẳng lọt tuần-huờn luật,

Ngàn thuở nào yên bởi kéo trì,

Đã nhận thước lòng ân nghĩa cũ,

Đền bồi tấc dạ hãy tường tri.

Hựu:

Tường tri giọt nước chảy tuôn tràn,

Lóng trược thanh tồn được hưởng an,

Lục tặc diệt trừ tâm phóng túng,

Tam bành phân chất ý chu toàn.

Sát sanh thọ khổ, tâm sanh sát,

Đoạn tuyệt luân hồi, đoạn tuyệt oan,

Chung nhựt khắc thì thần bất động,

Dạ hành đồng niệm ngự Tiên-bang.

Hựu:

Tiên-bang trọng tải cả khôn-kiền,

Chẳng vướng màn u ở tục miền,

Rửa sạch lòng phàm cơn sống tạm,

Trau-giồi trí não ngự ngôi Tiên.

Ước-ao bóng dáng nơi Bồng-đảo,

Thân chẳng hình dung tựa cửa thiền,

Giọt nước cam-lồ đây sẵn tưới,

Hồi-minh khử-ám giải ưu-phiền.

Hựu:

Ưu-phiền trí não lặn chìm sâu,

Dung-dưỡng làm chi phải chác sầu,

Dứt bỏ lại đời cơn sống tạm,

Trau-giồi theo Đạo phải lo âu.

Tuyết sa mặc tuyết, lòng không núng,

Sương đổ tùy sương, mặc điểm đầu,

Cái vết cổ-kim còn chạm đá,

Nẻo buồn vạn đợi khắc giờ thâu.

Hựu:

Giờ thâu canh lụn cảnh đời tàn,

Phản bổn nguyên lai lập Niết-Bàn,

Xây đắp căn-cơ hồi lạc cảnh,

Tô-bồi cội phúc ngự Tiên-bang.

Bâng-quơ cõi tạm không giờ nghỉ,

Nào thỏa tâm trung kế lỡ-làng,

Vóc gấm nát tan thân tứ đại,

Hình tô ruồng-rã thể cơ-hàn.

Hựu:

Cơ-hàn lặn hụp bể trần đây,

Nghiệt quả đeo mang khó gỡ rày,

Giải nghiệp thân phàm qua đến bến,

Đoạn oan tâm cắt đứt cuồng dây.

Ngon lòng trói buộc hồn linh bận,

Mặc đẹp rịt-ràng bản thể đây,

Cư bất cầu an, thư-thả phận,

Thực vô bảo phúc, tử quân nầy.

Hựu:

Quân nầy tan nát buổi tồn sanh,

Vì muốn khai thông mối Đạo thành,

Nhịp sống không cùng lâm bí túng,

Thác truyền nhân nghĩa đạt dương danh.

Nước nguồn chảy mạnh tuôn bèo giạt,

Non sựng trơ đầu rêu phủ xanh,

Mưa nắng bốn mùa chan đốt cội,

Gió lồng bao trận đẩy đưa cành.

Hựu:

Đưa cành liễu yếu phất-phơ qua,

Lay chuyển nhành mai thấy oặt-òa,

Một kiếp mảnh-mai nơi thế tục,

Chỉ mành trước gió khá bôn-ba.

Cõi đời tạm bợ đâu là quí,

Sinh trưởng tồn nhiên khó mặn-mà,

Ôm-ấp nẻo phàm thêm bận trí,

Phủi rồi một kiếp có chi đa?

Hựu:

Đa nhìn túp núi tuyệt cao vời,

Phưởng-phất chòm mây áng mặt trời,

Che lấp khí thiên đang chói sáng,

U buồn tiếng dội chớp giăng ngời.

Báo điềm võ-lộ cuồng phong đến,

Diễn tả lôi-âm chuyển động trời,

Nước đổ từng không sa-sướt cuộn,

Tràn trề mặt đất khỏa dòng khơi.

Hựu:

Khơi buồm trong lúc bọc chao thuyền,

Tay lái nương lèo phải vững yên,

Nước bủa bên lề chinh lắc mãi,

Sóng đùa sau trước đẩy triền nghiêng.

Cương tâm vượt bến dù giông-tố,

Quyết chí thẳng lèo cậy gió thiên,

Cần tiến trong khi xao-xuyến dạ,

Thanh-bình nào cậy trấn lòng yên.

Hựu:

Yên phần nghiệp quả trả tròn xong,

Nguyên thủy căn cơ giải tỏa lòng,

Phật-pháp điểm tô tâm ngự trị,

Tiên phương giồi-luyện trí khai thông.

Cư trần bất nhiễm ư trần cấu,

Tại thế nan tầm sanh thế không,

Dục nguyện CAO-ĐÀI minh chứng quả,

Thừa hành nhơn-đạo chỉnh thuần phong.

Hựu:

Thuần-phong mỹ-tục cảnh thiên-thai,

Vận dụng Đài-Cao trở gót quày,

Nuôi dưỡng tinh thần qua bể rộng,

Giồi mài trí não vượt non đài.

Bạch-y khỏa thể, lòng trong trẻo,

Lịnh sắc vươn mình, dạ chẳng sai,

Sống tạm thanh-nhàn an cuộc thế,

Thác hồi Cực-Lạc ngự Bồng-Lai.

Hựu:

Bồng-Lai diệu-vợi vút từng mây,

Ngũ sắc hoa đơm phún nhụy đầy,

Gộp đá kinh thiên xem vía mất,

Đèo truông triệt-địa thấy hồn bay.

Muốn vào cảnh tại, lòng không vướng,

Bốn vách trần hồng đạp phá ngay,

Thân-thể hoại rồi theo cát bụi,

Hồn linh ngự trị động non nầy.

Hựu:

Non nầy luyện Đạo đắc trường sanh,

Núi dựng từng mây đá chất thành,

Gió bắc tuông qua linh điển nhẹ,

Mưa rào phái hột diệt vô sanh.

Nước nguồn Tiên-động lao dòng chảy,

Mây đáp Thần-sơn vướng cội nhành,

Dưỡng tánh tứ thời thân bất hoại,

Luyện tinh hóa khí thể tồn sanh.

Hựu:

Tồn sanh luật định máy tuần-huờn,

Dục kiến Như-Lai tâm hải sơn,

Bợn tục tát vào không vấy áo,

Bụi trần pha trộn chẳng lem nhờn.

Uống ăn vật thế ngừa ân-oán,

Nuôi dưỡng linh-hồn dụng đức nhơn,

Tránh những xa-hoa đời nhựa sáp,

Gần bên thanh đạm đạo keo-sơn.

Hựu:

Keo-sơn một tấm chiếu trong ngần,

Đức thiểu tài sơ khó vẹn phần,

Kẻ trí biết Trời toan sấm chớp,

Người mơ dẫn dắt trẩy sang lần.

Con đường ngang tắt mau rời bước,

Cái nẻo quanh vòng chậm mỏi chân,

Chểnh-chệ xác phàm e phải lụy,

Dập-dồn trí não khổ cho thân.

Hựu:

Thân phàm tiều-tụy bởi mê trần,

Linh tánh lu-mờ bị vướng chân?

Một phút mua vui trên vũng tục,

Muôn thu sầu thảm dưới sanh phần.

Đưa đường trụy-lạc qua bờ giác,

Chỉ lối luân trầm vượt bến tân,

Hỡi kẻ thức thời toan cất gánh,

Hoàn thành sứ-mạng ngự đài vân.

Hựu:

Đài vân bay luyện ở không gian,

Đỡ gót tới lui rọi điển đàn,

Sớm vượt non Thần qua Bắc-hải,

Chiều du Tiên-động ngự Nam-san.

Bốn mùa chẳng vướng tâm phàm tục,

Tám tiết nào vơi dạ Niết-Bàn,

Kiếp tạm phú bần đâu thỏa đặng,

Đền son lều cỏ phẩm nào an.

Hựu:

Nào an cuộc thế dẫy đao binh,

Sấm chớp phong-ba nỗi bất bình,

Chuyển động không gian rung trái đất,

Vận hành nhựt nguyệt núi nghiêng chinh.

Sơn băng địa chấn, đời tiêu diệt,

Thủy kiệt thiên ngưng, đạo xuất hình,

Trách-nhiệm thay thân truyền chánh-pháp,

Thừa-hành sứ-mạng độ toàn linh.

Hựu:

Toàn linh lặn hụp bể trần vơi,

Say đắm trầm luân hủy-hoại đời,

Sớm chẳng lanh chơn qua bể cạn,

Chiều toan luống-cuống lúc non dời.

Hai tay nắm chặt đâu là hưởng,

Một kiếp bê-tha uổng cuộc đời,

Lái Phật thả thuyền đang chực bến,

Đò Tiên chuyển máy rước người vơi.

Hựu:

Người vơi cập bến bước lên thuyền,

Sẵn chiếc linh thoàn vượt lối Tiên,

Chớ có dần-dà e trễ chuyến,

Làm cho linh điển phải ưu phiền.

Nghiệt-đài phú quí nào căn bản,

Đạo-đức dinh hư ấy mối giềng,

Phút chốc công danh tan vỡ sạch,

Rồi mang nghiệp quả xích gông xiềng.

Hựu:

Gông xiềng rổn-rảng buộc kềm chơn,

Sự muộn ăn-năn quá tủi hờn,

Tái kiếp luân hồi tùy quả nghiệp,

Đền bồi ác tục trọng dường sơn.

Một mai tỉnh ngộ tâm mò tháo,

Ngàn rủi mê say dạ nuốt hờn,

Sống tạm trau-giồi tâm tánh tục,

Làm cho linh điển phục lai huờn.

Hựu:

Lai huờn Tiên-cảnh đó người ôi!

Nghiệp-quả đeo mang vay trả rồi,

Thong-thả linh-hồn về Cực-Lạc,

Quây-quần trí não lấp đường ngôi.

Vương hầu khanh tướng xem là quý,

Gặp gã vô thường phải phủi rồi,

Quyền bính trong tay nào sửa đặng,

Chỉ còn đạo-đức mới bền thôi.

Thi vô-vi:

            Trường-Canh chiếu điển rọi Văn-Phòng,

                              Lập quả công,

                                    Truyền chánh-pháp,

                                          Để khai thông.

      Cười... Giờ linh Bần-Đạo thọ sắc DIÊU-TRÌ hạ thế sắp bày đường Thiên-đạo hầu trao lại cho chư hiền Thiên mạng một món quà vô giá. Đó là điều quí báu trên cõi đời sống tạm. Chư Thiên-mạng hiền đệ nên yên lòng; trong khoảng đường tu học từ bực thấp lên cao tuần-tự như lúc bé thơ vào trường học vấn. Như vậy, chư hiền cố-gắng để đạt kỳ công ngày thi hội, vì về chương trình học vấn, ấu-nhi phải cố gắng thành tài, chẳng nên biếng lười sanh ra thất vọng. Đó là tuổi lúc thiếu thời vào trường học hỏi. Còn về phần Thiên-Đạo, chư hiền nên nhiệt tâm đắp bồi công hạnh tùy theo trình độ tiến lên. Vì trình độ bất đồng nên Đức CHÍ-TÔN mở rộng cho nhiều phần lập quả.

      - Một là cơ phổ-hóa phát khai nền Chánh-pháp.

      - Hai là lập đức tu thân chánh tâm hành thiện.

      - Ba là công-phu trau-luyện nuôi dưỡng linh hồn.

      Đó là rộng cho những điều tu luyện tùy theo duyên kiếp mình mà đạt lấy.

      Vậy giờ đây tiếp Kinh. Bần-Đạo luận đôi dòng cho chư hiền để ý. Bần-Đạo giã từ, điển hồi Tiên cảnh.

      Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 6-8 Canh-Tuất (6-9-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Huệ-Linh-Thông

____________

Thi:

Mỗi nhựt tương phùng thủy đích châu,

Thập toàn viết thập nguyệt chung bầu,

Nhĩ đồng khẩu hội đầu vương thượng,

Đại-Đạo phi thăng nhứt thượng thâu.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư hiền đồ. Giờ tiếp Kinh, Tôn-Sư báo đàn, chư hiền đồ thành tâm tiếp lịnh Tam-Giáo hạ trần tả Kinh.

      Tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Bắc-Hải. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

NGỌC chiếu hào quang buổi thế tàn,

HOÀNG khai Đạo-pháp cõi Nam-bang,

THƯỢNG nguơn tái tạo xây nền móng,

ĐẾ chuyển kỳ tam thả bách thoàn.

 bút tả Bình-Minh thống hội,

Danh lưu thất ức tại trần gian,

CAO minh phổ hóa dân vi thiện,

ĐÀI chuyển căn-cơ lập Niết-Bàn.

      NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ — Thầy mừng chung các con trần thế. Các con an tọa nghe Thầy diễn dụ.

      Nầy các con, các con xuất hiện nơi cõi trần từ chỗ không mà đến; như vậy, rồi đây các con cũng sẽ huờn lại không. Còn chỗ có là phát sanh từ luật tuần-huờn phát sinh nguồn sanh hóa. Chỗ có là do khí huyết nhục thân cấu tạo thành hình. Đó là điều giả tạm mà các con dựa vào đó làm cơ hội lập công bồi đức, đắp xây nền Đạo-lý cho mình, và bên mình đồng hưởng ứng, tổ hợp thành căn cơ mà Tạo công đã dành để. Như vậy, các con cần phải biết cái có kia là phát xuất từ chỗ không, và mãi tiến hóa theo thời gian, đến một ngày nào đó sẽ bị hoại đi, vì bản thân con không còn cảm xúc với vật-dục nữa, thì nó sẽ huờn về không và tan mất. Khi huờn về không, các con còn ghi lại đôi dòng bút tích khi nơi trần các con làm được những việc gì đáng lưu cho đoàn hậu tấn, hay tạo nên một sự nghiệp tinh thần cấu tạo cho thế-hệ đương kim sùng bái. Như vậy, các con đã đạt được kỳ công mà các con nơi trần đều công nhận.

      Các con hãy nghĩ lại: sống nơi trần, các con đã gây biết bao cảm-xúc cho các con lân cận, hay để lại những hận thù cho đời phỉ báng. Đó cũng là luật định hoài bão làm cho các con phải vấp phải, để trở lại nguyên hình.

      Nay Thầy hạ trần ban cho các con quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM, Thầy dùng những lời phàm thế để diễn dụ cho các con tường, hầu un-đúc tinh thần trên con đường hành thiện; để đến ngày huờn không thì các con không bị ràng buộc mà được nhẹ nhàng như khói bay bổng từng không. Đó là điều mà Thầy đã khai sáng nền Đạo, để các con lập công đức hầu đạt được mục tiêu. Vậy các con nên ghi nhớ vào lòng khi các con gặp những điều chướng ngại, vì sự sống chung đụng nơi trường đời, gặp biết bao là điều bất trắc. Thậm chí đến các con còn chưa chơn-thật được lòng mình, còn bàn đến các con lân-cận thì làm sao thỏa nguyện được chu toàn? Vậy các con cần cẩn thận từ ly để lòng khỏi phải ngơ-ngác khi gặp những bất-trắc kia, vì thiếu kinh nghiệm trên bước đường hành sự, nên các con phải bỏ Đạo xa Thầy!

      Nầy các con, tuy các con chưa hoàn tất trưởng thành nhưng tuổi đạo đã bán phần thế kỷ. Thầy đã trao quyền năng cho các con tự vạch một con đường sáng hầu cùng nhau dìu dắt đến cõi hư-linh. Thầy không còn kề bên các con để chỉ đường vạch lối như trước kia nữa, nhưng Thầy bao lần trao cho các con thì các con lại rùng mình nhíu trán, hình như không đủ khả năng nghiên-cứu chương trình tiếp tục, hay: quyết đoán một sự việc cấp thời, hầu bổ cứu cho nhau trên con đường thừa hành đạo sự. Như vậy, sự yếu hèn của các con càng ngày vượt qua tăng trưởng.

      Nay nhìn lại các con đã đứng đi vững vàng không còn như các con lúc mới tập đi chập-chững từng bước một như hồi sơ-sanh... Vậy các con cứ bước đi, vượt đi, tuông đi, để không còn thấy mình là còn ấu-nhi nữa. Như vậy mới thay Thầy hành đạo, đúng theo lời Thầy đã bảo:

Thầy là các con, mà các con là Thầy đó

Bài:

       Kỳ Nguơn-Hạ BÌNH-MINH chuyển bút,

       Nên thừa hành trong lúc khai Kinh,

              Thử xem thế thái đời tình,

Biết bao tủi-hổ vì mình với thân.

       Lời không thật lại phân giao cảm,

       Lời dối-gian bảo đảm được ai?

              Lời truyền khắp cả trần này,

Lời chơn-lý thật miệt mài một thôi.

       Lẽ công bằng trẻ ngồi con đứng,

       Lẽ tự nhiên lập luận siêu nhân,

              Lẽ ra kiếp sống nơi trần,

Lẽ-loi chích phận, con cần liên dây.

       Nhìn thấy con lòng Thầy thêm chạnh,

       Nhìn nhơn-loại tạo cảnh đau thương,

              Nhìn qua lòng bắt đoạn trường,

Nhìn rồi giọt chảy con tường chăng con?

       Thấy các trẻ mỏi-mòn tâm chí,

       Thấy như vầy ngôi vị sao lên?

              Thấy chăng con trẻ chí bền,

Thấy đường khai sáng bước lên thanh nhàn.

       Đường hành thiện chu toàn một lối,

       Đường tu thân phước tội lọc ra,

              Đường về đến cõi Ta-Bà,

Đường sang Nam-Hải con Ta nên tầm.

       Đạo CAO-ĐÀI huyền thâm chuyển vận,

       Đạo khai thông giải hận thù xưa,

              Đạo cần phải giữ tam-thừa,

Đạo là đường sáng lọc-lừa tục Tiên.

       Tu vận chuyển tâm thiền ý định,

       Tu trau-giồi tùng thính lời truyền,

              Tu là đạt vị ngôi Tiên,

Tu nhân tích đức trần miền vượt qua.

       Học Đạo mầu kỳ ba đại xá,

       Học nghiệm suy vàng đá phân minh,

              Học cần phải biết nơi mình,

Học là ghi nhớ BÌNH-MINH móng nền.

       Đạt mục đích gắng bền tâm chí,

       Đạt kỳ công yếu-lý phân minh,

              Đạt thành tâm tánh điển hình,

Đạt ngôi vị cũ BÌNH-MINH điểm đề.

       Thành chánh quả biển mê xa lánh,

       Thành Phật thân như cảnh minh đài,

              Thành Tiên thoát xác hậu lai,

Thành danh ĐẠI-ĐẠO sáng khai tại trần.

       Chánh giác niệm não cân định vị,

       Chánh quang minh chung thỉ đồng thinh,

              Chánh tâm vững bước Đạo Huỳnh,

Chánh đường đạo-lý tồn sinh không nhàm.

       Quả đẹp đạt Già-Lam ban thưởng,

       Quả vị xưa trưởng dưỡng từ lâu,

              Quả lành đã bắt nhịp cầu,

Quả kia đã phục dãi-dầu tư lương.

       Phục tinh-tú vô thường nào động,

       Phục huờn hư thiên võng khôi khôi,

              Phục thỉ châu nhi phản hồi,

Phục đường chánh đại vị ngôi sẵn dành.

       Lại luân-chuyển đề danh đắc tại,

       Lại lưu đề thời đại Thượng-Nguơn,

              Lại thăng giáng điển phục huờn,

Lại truyền đạo giáo lâm sơn khắp cùng.

       Bổn thể vốn đồng chung một thớ,

       Bổn căn đồng tán trợ tương-quan,

              Bổn tánh hướng đạo con thoàn,

Bổn linh khai sáng đạo vàng đức-tin.

       Nguyên vị cũ tiền trình hạ thế,

       Nguyên nhân do tại thế lập công,

              Nguyên-căn đạo pháp chánh tông,

Nguyên do phục thỉ khai-thông lưu truyền.

            Nay Thầy đôi đoạn diễn dụ cùng con. Thầy ban ân lành chung các con. Tiếp lịnh, Thầy giã từ, điển hồi Bạch Ngọc. Thăng...

 Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 6-8 Canh-Tuất (6-9-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Huệ-Linh-Thông

____________

(Tiếp điển)

Thi:

THÍCH hữu nguyên nhân bất nhiễm trần,

CA đề tái tạo lập Tân-Dân,

MÂU tâm thuẫn trí bàng môn giáo,

NI huệ minh châu chánh-pháp phân.

      THÍCH-CA MÂU-NI — Ta mừng chư đẳng chúng sanh an tọa nghe. Ta thọ lịnh DIÊU-TRÌ lai phàm tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM lưu lại cho chư môn đồ đôi dòng bút tích.

      Nầy chư môn đồ, Ta là một Thái-Tử, sống không đầy trăm tuổi, mà lo kế ngàn năm, thì thân tứ đại sẽ hóa ra bùn dơ cặn bã, hồn linh chả biết nương tựa nơi nao. Nhờ tâm giác phóng đại tiền kiếp mà ngày nay tên Ta còn nằm trong lòng chư chúng sanh, điển quang Ta mãi rọi nơi ác thế ngũ trược vì đại thệ của Ta chưa đạt, bởi chúng sanh còn mê; môn đồ thay thân Ta, mặc y mà hành không y. Thảm thay! Thương thay! Kìa thiên Kinh vạn quyển, vạn lý nhứt chơn, có đâu là khó, khó bởi lòng người chẳng chịu định tâm cho chơn như xuất hiện. Vì thế mà chơn giáo của Ta bị chinh đổ, không thành.

      Nay, kỳ Hạ-Nguơn, Đấng THƯỢNG-ĐẾ giáng lâm, hội Công-Đồng Tam-Giáo Ngũ-Chi Đại-Đạo để cứu đời, vạn thù qui nhứt bổnVậy môn đồ của Ta hãy vô tâm thiền định mà đi ngay vào con đường Đại-Đạo, ắt gặp Ta trong ngày cổi xác.

Bài:

       Ta thị ngã, chơn-linh THƯỢNG-ĐẾ,

       Giáng vườn Lam, cha Lỹ La-Thành,

              Thích-Ca phía Bắc-Ấn danh,

Dưới chơn Hy-Mã điềm lành báo tin.

       Tịnh-Phạn-Vương cha mình mừng rỡ,

       Mẫu Gia-Ha ai nỡ lìa thân,

              Lọt lòng thất nhựt đơn thân,

Thiên thượng thiên hạ tứ ân lo đền.

       Tam-thập-nhị tướng tên làm dấu,

       Bát-thập in ai thấu kỳ hình,

              Sĩ-Đạt Thái-Tử thông-minh,

Sư phân ta biết thầy mình ngạc nhiên.

       Ta tột đỉnh danh quyền lộc cả,

       Nghiệp Đế-Vương ta sá như chơi,

              Thê nhi Ta dứt nợ đời,

Giao du tứ hướng quyết thời đi tu.

       Đông phương dạo ngao du xem cảnh,

       Lão già nua, trông chạnh não-nùng,

              Nam phương người bịnh lạnh lùng,

Đớn đau khổ sở đất bùn lấp dơ.

       Tây phương ngộ tình cờ người chết,

       Cảnh đau buồn luyến-tiếc gia đàng,

              Ba lần xúc động tâm can,

Sanh lão bịnh tử khổ nàn triền-miên.

       Lần thứ tư dạo miền phương Bắc,

       Gặp Sa-Môn tâm đắc hỏi-han,

              Đường tu ta đã lập tràng,

Về tâu phụ mẫu lên đàng xuất gia.

       Cha không thuận bày ra giải trí,

       Cảnh buồn rầu than-thỉ phủ vây,

              Thiếp hầu thuyết phục chẳng lay,

Ra đi Ta định chí nầy phải nên.

       Học Đạo mầu xây nền Chánh-giáo,

       Tầm phương-châm cải-tạo thế-gian,

              Thoát vòng tứ khổ mênh-mang,

Trở về Thánh-Đức Tam-Hoàng như xưa.

       Ra khỏi thành ta chưa hiểu Đạo,

       ép xác phàm để tạo đường siêu,

              Gấm y đổi bộ thay chiều,

Khoác y đổi lớp qui-điều vị-tha.

       Thành Phê-Sa tìm mà Đạo cả,

       Chẳng bao lâu Vương-Xá mở đường,

              Nhiều Thầy chỉ giáo đa phương,

Định tâm tự tạo một đường phát minh.

       Khổ-hạnh lâm tự mình triết-lý,

       Thấy sai lầm khắc kỷ sửa ngay,

              Sáu năm khổ ép xác này,

Ta liền thay đổi sửa rày phép tu.

       Sông Ni-Liên phá ngu phát huệ,

       Năm đệ-đồ xài-xể khinh ta,

              Cuối cùng mới thấy THÍCH-CA,

Đại-hùng đại-lực yêu ma kính nhường.

       Bồ-đề tọa, kim cương nhập định,

       Trí huệ minh chấn chỉnh tâm linh,

              Phật ma chỉ tại lòng mình,

Đại-thừa đại biện bóng hình tương quan.

       Đắc Đạo vốn tự toan giác ngộ,

       Thông tiền căn, trừ cố căn tâm,

              Nhãn-quan huệ thấu vật tâm,

Nhơn duyên thập nhị luân trầm quả phân.

       Tứ-Diệu-Đế luận phân Bát-Chánh,

       Tứ-Duy-Tường hiểu chánh phá tà,

              Luật Đạo thông suốt tinh hoa,

Qui-y Tam-Bảo vị tha quên mình.

       Hỡi môn đồ! mấy nghìn năm lẻ,

       Hỡi chúng sinh! mau lẹ lên đường,

              Long-Hoa mạt kiếp rán bươn,

Cha Trời giáng thế mở đường cứu nguy.

       ĐẠI-ĐẠO khai TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ,

       Danh CAO-ĐÀI qui cổ diệt kim,

              Ngũ-Chi Tam-Giáo qui nguyên,

Vạn thù nhứt bổn về đền Ngọc-Kinh.

       Ta lưu lại nhơn sinh môn đệ,

       Từ đại-thừa, tiểu kế, sơn môn,

              Cổ truyền Khất-sĩ nhị tông,

Thiên gia tinh hội Kỳ-Sơn Hảo-Hòa.

       Đắc Đạo thành Thích-Ca thống nhứt,

       Cảnh phân ly địa-ngục bàng-môn,

              Ai là đệ tử Thế-Tôn?

Vị tha vong kỷ bảo tồn chơn tông.

       Ta vắn tắt đôi dòng nhắn nhủ,

       Tin hay không văn tự làm bằng,

              Long-Hoa phán đoán đọa thăng,

Đại-đồng khỏi chối ăn-năn muộn màng.

       Một câu hỏi thí tràng đậu rớt,

       Hai mục-tiêu là thuộc chánh tà,

              Phân minh mê giác Phật ma,

Chữ Tâm thị ngã chẳng mà đâu xa.

       Nhìn Phật-tử lòng ta thêm thảm,

       Thấy chư tăng mắc cạm bẫy trần,

              Ma vương tiếm ngự bản thân,

Thất-tình lục-dục ân-cần cải qui.

       Đường giải thoát Tam-Kỳ Đại-Đạo,

       Đấng CHÍ-TÔN chuyển giáo CAO-ĐÀI,

              Khai trung-dung, một đường ngay,

Lý chơn chỉ một Đạo rày không hai.

       Tán vạn thù Đông Tây Nam Bắc,

       Vốn đồng nguyên gieo rắc giống lành,

              Danh từ hình thức chia ranh,

Cho phường ma quỉ giựt-giành con ta.

       Qui Tam-Giáo một nhà Đại-Đạo,

       Hiệp Ngũ-Chi hườn đáo bổn nguyên,

              CAO-ĐÀI đạt bảng chánh truyền,

Con ta trổi bước xuống thuyền qua sông.

       Phá chấp ngã sắc không, không sắc,

       Tâm không bình vị đắc Như-Lai,

              Thích-Ca thị ngã Cao-Đài,

Cao-Đài thị ngã đổi thay danh từ.

       Lời ghi chép thiên-thư hư thiệt,

       Để truyền ra lưu thuyết môn-đồ,

              Phật ngôn điển giáng bày phô,

Hữu căn hữu kiếp xuống đò kỳ ba.

Thi:

Kỳ ba lai đáo luật tuần-hoàn,

Sanh trụ hoại tồn tại Việt-Bang,

Hạnh ngộ Cao-Đài truyền Đại-Đạo,

Hỷ phùng Ngọc-Đế ngự trần gian.

Vạn thù qui nhứt chư tôn hội,

Tam ngũ huờn nguyên khải giáo tràng,

Cứu cánh mạt đời xây Thánh-Đức,

Thượng-Nguơn chuyển lập tạo vinh quang.

      Nầy chư môn sanh, cõi trần đầy ô-trược, mùi danh lợi nhử câu làm cho chư môn sanh đang lặn hụp kiếm tìm nên phải xa rời tâm đại-tịnh. Kìa nhìn xem tịnh thủy bình bất động xuất hiện minh châu, như câu:

Nhơn tâm thường thanh tịnh,

Thiên địa tất giai tri.

      Nếu lòng người được yên lặng thì Trời Đất đều biết đó.

      Chư môn sanh nên ngăn ngừa vì cõi trần nầy là:

Ái hà thiên xích lãng

      Sông ái-hà như làn nước vô hình khỏa vượt cao hơn ngàn thước, phủ nhận chư môn sanh, không định tâm khó mà vượt khỏi.

Khổ hải vạn trùng ba

      Bể khổ nơi cõi trần nầy như biển rộng mênh-mông khỏa biết bao vạn lượn sóng trùng-dương, đang gặp trận cuồng phong xô đẩy làm cho chư môn sanh dấy loạn tinh thần nên bị sóng nhận nhồi bản thân lẫn tinh thần đều chìm đắm.

      Như thế, kiếp tạm nầy dù cho chư môn sanh tận hưởng mùi vinh hoa phú quí của đời cũng chưa vượt khỏi bể trần trong khi xao động. Thế rồi, ngày cổi bỏ xác phàm, hồn linh phải nương tựa vào đâu làm căn bản? Vậy môn sanh cần trau luyện tinh thần để ngày mai hậu làm một bút tích lưu đời. Như thế mới tròn câu thệ nguyện trước Ngọc-Đài khi hạ thế.

      Nay tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM, Tôn-Sư nhắc lại những điều kết quả trao cho chư môn sanh ghi nhận để tránh khỏi sự muộn ăn-năn như trước kia nơi Nghiệt-Đài chối cải.

      Tiếp lịnh, Huệ-Pháp.

      Tôn-Sư ban điển lành chư đẳng chúng sanh, điển hồi Cực-Lạc.

      Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 6-8 Canh-Tuất (6-9-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Huệ-Pháp

____________

(Tái cầu:)      

HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư tái cơ truyền lịnh Huệ-Chiếu-Quang trấn chơn dương phù cho chơn đồng khai khẩu.

      Tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Thượng-giới. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

THÁI-Cực vị phân Đạo chuyển thành,

THƯỢNG tiêu bất xuất thế phù sanh,

ĐẠO trường lão ấu căn-cơ dưỡng,

TỔ luyện đơn kim đắc thọ sanh.

      THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ — Tôn-Sư mừng chư môn đồ. Chư môn đồ an tọa nghe Tôn-Sư truyền lời diệu khuyết để cho chư môn đồ tri tường hầu cứu vãn tâm trung trong hồi giao động.

      Nay Tôn-Sư thọ lịnh DIÊU-TRÌ tả BÌNH-MINH ĐỆ TAM để ban hành ra cho chư môn đồ tu học tùy theo công quả mà tiến hóa. Đó là một viên linh đơn để hồi sinh chơn tánh của chư môn đồ đã sắp phai dần vì vật-dục.

Bài:

       Người thượng-đức không cần giữ đức,

       Bởi vì chưng vượt bực phàm nhơn,

              Vĩ danh đạo-đức lai huờn,

Đức kia đã chọn trong cơn hành-tùng.

       Thượng-đức ấy tôn sùng Đại-Đạo,

       Ngũ đức nêu cải tạo chu toàn,

              Nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín ban,

Tại NHO như thử con đàng trung-dung.

       Cần giải tỏa trừ hung khử bạo,

       Sát tâm vọng tữ đạo vô minh,

              Chu toàn ngũ giới duy tình,

THÍCH nhi tác đức vô-hình từ-bi.

       Cần un-đúc hữu tri tánh mạng,

       Luyện Tiên-đơn căn bản Tiên-gia,

              Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ hòa,

Tại ĐẠO nhu thử cảm là ứng thông.

       Ngũ đức ấy lảu thông đầy đủ,

       Dù hậu-thiên khốc dụ trần miền,

              Hậu-Thiên phản bổn Tiên-Thiên,

Bổn lai ngũ đức huờn nguyên sáng lòa.

       Nên thượng-đức nào là chấp đức,

       Vì nêu cao vượt bực phi phàm,

              Hạ-đức còn nhiều hãm giam,

Hạ-đức chấp đức, để làm bản nguyên.

       Cần chấp đức, để liền cải-hóa,

       Biết tội tình hối cả con tâm,

              Răn hình sát, tránh lỗi lầm,

Lấy nhân đo lượng để tầm Phật Tiên.

       Răn xảo trá tâm hiền trọn nghĩa,

       Răn lòng tà chớ bịa dâm-ô,

              Đó là dụng lễ điểm tô,

Thành danh Đại-Đạo môn đồ do đây.

       Răn tửu nhục đủ đầy lý-trí,

       Trí khôn ngoan thành ý cao siêu,

              Răn vọng ngữ, giữ luật điều,

Gìn tâm giữ tính mục-tiêu nhơn loài.

       Cần tri thử bổn lai nhứt mạch,

       Nên chấp đức nhiệm-trách hạ từng,

              Chấp là giữ lấy huyền-ưng,

Đức cao tồn tại nhơn quần đáng nêu.

       Nêu đạo-đức luật điều phóng tác,

       Cho vạn linh giải thoát mê đồ,

              Khinh thân trọng vật nông-nô,

Răn lòng tham lạm khẩu đồ nguy nan.

       Triền-miên lại nào an oan-trái,

       Răn lòng tà tâm hoại thể thân,

              Đoạn như dục loạn-luân trần,

Ấy là cấu tạo muôn cân tội tình.

       Răn tửu nhục tâm linh trí tuệ,

       Trí khôn ngoan là để tạo thân,

              Muốn cho vượt khỏi bể trần,

Vẹn gìn đức tánh ân cần giồi trau.

       Bảo đức tánh khỏi vào lục súc,

       Giữ tâm chơn sở dục ư nhơn,

              Thành-tín tránh vướng gây hờn,

Chánh tâm định ý phục huờn Tiên-bang.

       Nên tri thử hành-tàng chơn tánh,

       Cần ôn-nhuần để tránh đọa thân,

              Thọ giới sát, tất vô nhân,

Mộc kia đã khuyết tinh-thần hại thay.

       Địa Đông-Phương Hữu-Tai, trần cầu,

       Tại Thiên Tuế-Tinh hậu bất an,

              Tại nhơn thọ thương đởm can,

Cho nên bất sát an-nhàn điểm linh.

       Cần răn trộm ngục hình chi loại,

       Mất nghĩa kia cần phải gìn lòng,

              Khuyết kim bộ phận ngoài trong,

Tại Thiên Thái-Bạch địa hồng Tây-Phương.

       Tại nhơn, tắc phế trường thọ hại,

       Răn tà dâm để hoại lễ nhà,

              Khuyết hỏa tắc rụi lòng ta,

Tại Thiên Quýnh-Hoặc khó mà đặng an.

       Tại địa, thử Nam-phang tai hại,

       Tại nhơn thân tổn hại tâm trường,

              Bảo tồn tạo cảnh Thiên-Đường,

Đừng cho di-dịch tâm trường kiệt hao.

       Giái tửu nhục đón rào trí tuệ,

       Phải khuyết thủy thân thể khô khan,

              Tại thiên, tinh-thần chẳng an,

Tại địa, phương Bắc khó toàn nạn tai.

       Nơi nhơn thân càng ngày kiệt quệ,

       Thận bàng-quang ký tế thọ thương,

              Cần nên giữ vững lập trường,

Thiên khuynh địa chích một đường vững yên.

       Vì xảo trá không nguyên chữ tín,

       Bị khuyết thổ thị tín nan thành,

              Tại thiên, trấn-tinh bất sanh,

Tại địa, tắc trung-ương thành họa tai.

       Tại nhơn phẩm họa lai tỳ vị,

       Bảo toàn thân tri-kỷ vật nhơn,

              Châu nhi thiên địa tuần-huờn,

Chúng sanh nhựt lộ luyện đơn kim thành.

       BÌNH-MINH chuyển hồi sanh đạo-lý,

       ĐỆ-TAM khai chung thỉ trọn đề,

              Nên gìn ngũ tặc chớ xê,

Phát sanh nhịp sống dựa kề Tiên-bang.

      Tôn-Sư diễn tả đoạn nầy lưu lại cho chư môn đồ tri tầm hầu chỉnh đốn tâm trung những điều kém khuyết, để tu bổ cho nguồn linh-điển được đủ đầy hầu vượt qua luật tuần huờn cao vọi.

      Tôn-Sư ban ân lành. Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Ngọ thời, 12-9 Canh-Tuất (11-10-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Huệ-Pháp

____________

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư hiền đồ.

      Giờ thọ sắc báo đàn tả Kinh, vậy Huệ-Chiếu hội Tam Thiên phù trấn nê-huờn cho chơn-đồng khai khẩu.

      Tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

TRỌNG Đạo tam-tùng luật chánh tông,

NI truyền thường-ngũ chỉnh thuần phong,

KHỔNG-môn tu học an thiên hạ,

TỬ hậu lưu hành thế Việt đông.

Tả bút khai thông qui củ lập,

Kinh luân vạn quyển sử nhơn tông,

BÌNH quang sinh lộ tầm chơn-lý,

MINH triết Bồ-Tiên tạo đại-đồng.

      TRỌNG-NI PHU-TỬ — Nhà-Thầy mừng chư đồ đệ Tam-Kỳ hạ thế, chư đồ đệ an tọa nghe Nhà-Thầy khai truyền Đạo giáo.

      Nầy chư đồ đệ, một giáo-lý từ Trung-Cổ lưu tồn bởi Nho đồ từ ngàn xưa lưu lại do Nhà-Thầy sáng giáo, mục đích Nho-tông dụng cang-thường luân-lý để làm một lễ giáo cho chư đồ đệ ôn-nhuần hầu ngăn ngừa mối loạn tâm do lục-dục bộc hành tao loạn, sự trấn áp điều hỗn loạn nội tâm không thể lấy ví dụ bên ngoài mà điều khiển, đè nén được lòng sở dục của con người, khi bị tư-tưởng thu hút vào tâm trí. Thế nên dụng kỷ-luật tạo giác tri-kỷ, để làm một khuôn vàng thước ngọc đo lòng người và phân ranh giới, để làm một lằn gạch ngang của giới-hạn mà không phép được vượt qua lằn mức.

      Thế nên Nhà-Thầy dụng lễ; điều nầy là chỉ-nam khi khai tràng lập giáo. Sự ứng dụng rất hiệu lực trong khi giáo điều được tôn trọng vào buổi Trung-Nguơn mà điều phản ứng đã có trong khi Nhà-Thầy khai truyền Đạo-giáo. Đã trải qua bao thế hệ, tuy kim cổ bất đồng nhưng đã đạt được kỳ công còn lưu bao vết tích như hiện tại qui-nguyên nền Tam-Giáo, gom nhặt tinh-ba của nền cựu-giáo, xây thành một giáo-lý hỗn hợp, gây một tiếng sấm vang dội khắp loài người trên mặt đất, để rồi loài người tự đưa mắt nhìn vào nhiều khía cạnh, gây một hoài bảo âm-thầm vì đã kết thành liên-hệ, mãi tiếp tục suy tư khi ngó sâu vào chương trình danh hiệu. Sau cùng đã tổ hợp lại một giáo-lý trọng đại như đã có, gồm Tam-Giáo qui nguyên, Ngũ-Chi hiệp nhứt, không phân ranh Tôn-Giáo. Như thế, thuyết đại-đồng không cần phổ hóa mà nó đã tự phô bày trên một danh từ xuất hiện.

      Nay Nhà-Thầy thọ lịnh Diêu Cung hạ điển trần tả quyển BÌNH-MINH ĐỆÂ-TAM để diễn dụ lưu đề khải giáo triền miên còn lưu lại những thành quả trước kia cho hiện tình chư đồ đệ soi chung hầu tiếp tục khai thông nền Đại-Đạo, để lưu lại một ký ức ngàn thu bất diệt.

Bài:

       Ngự bút Thánh Nho-Tông chuyển thế,

       Dựng triều-nguơn hạ kế Thượng-Nguơn,

              Châu nhi phục thỉ lai huờn,

Tinh vi bất diệt thâm sơn thủy hà.

       Nguồn Nho-Tông Trung-Hoa truyền bá,

       Gốc tinh thần giáo hóa ngũ-luân,

              Khắp Đông-Nam-Á nhơn quần,

Trải qua giai đoạn tưng bừng truyền ban.

       NHÂN đầu đề an-bang tế-thế,

       Nhân ấy là dụng để trị nhơn,

              Nhân-ái đánh tạt gây hờn,

Nhân từ đoạt giải tuần-huờn thể thân.

       NGHĨA giữ vẹn quân thần chi đạo,

       Nghĩa tương đồng đào tạo khuôn viên,

              Nghĩa là căn-bản mối giềng,

Nghĩa người quân tử nằm yên nơi lòng.

       LỄ ngăn ngừa đục trong phát động,

       Lễ bày khai hình bóng đẹp xinh,

              Lễ là ngăn cách đời tình,

Lễ đây áp dụng luật hình khỏi mang.

       TRÍ tinh xảo nên toan liệu định,

       Trí thanh nhàn tu chỉnh tâm trung,

              Trí tri là kiếm thư hùng,

Trí mưu thông thạo bất tùng dục-tâm.

       TÍN nguồn cội cao thâm đức độ,

       Tín gầy nên toán số tương lai,

              Tín trung nương ngự hằng ngày,

Tín là lập vị sáng khai đại-đồng.

       Bởi ngũ-đức gồm trong luật giáo,

       Cùng ngũ-luân hoài bão danh từ,

              Ngũ-giới nào khác đây ư,

Hòa đồng một thể tàng thư ghi vào.

       Khai hạnh đường đề trao bí quyết,

       Bồ-Tiên-Trang mài miệt giáo truyền,

              Lưu tồn vạn đợi trần miền,

Hạ-Nguơn chuyển Thượng triết hiền trị an.

       Còn lưu lại nơi trang sử đạo,

       Tứ Phối thập triết giáo Nho-Tông,

              Thất-Thập-Nhị Hiền tường thông,

Đây là bút tích Nho-Tông lưu truyền.

       Tả Bình-Minh đôi thiên bút ký,

       Cần lưu tâm chung thỉ một đề,

              Vẹn gìn qui củ đã phê,

Thánh-nhơn hiền-triết lưu hề kết tinh.

       Họ Chiêm-Đài, Việt-Minh danh tự,

       Người Võ-Thành, tên chữ Hàm-Ân,

              Tử-Võ học thức hiếu thân,

Khai minh lý-trí trong phần đệ môn.

       Bí-Bất-Tề danh ngôn Tử-Tiện,

       Người nước Lỗ, xuất hiện hiền nhân,

              Môn đồ tâm tánh ân cần,

Hoát khai đạo-lý về phần kinh luân.

       Nguyên-Hiếu-Phục nhơn quần đại chúng,

       Tự Tử-Tư tác dụng đạo luân,

              Người Tống quốc, tiến không ngừng,

Lập thành thể chế triều dâng sửa đời.

       Công-Dã-Trường người thời Lỗ-quốc,

       Tự Tử-Trường, danh thật Nhĩ-Thinh,

              Thường văn bá điểu chi thinh,

Thế nên cam chịu luật hình đã qua.

       Nam-Cung-Hoát cũng là Lỗ-quốc,

       Tự Tử-Dung gan mật can-trường,

              Thọ mạng thuyết giáo hạnh đường,

Kỳ thời bất đạt khoa trường hồi an.

       Tiếp Tử-Sài luận bàn nhơn nghĩa,

       Tự Tử-Cao gieo tỉa ái hòa,

              Lòng hằng nhân-ái, ái-tha,

Giải bày luân lý nhơn hòa địa khai.

       Sang nhơn thể sắp bày ngọn bút,

       Tất-Điệu-Khai tri túc thời hành,

              Danh từ Tử-Nhược lưu danh,

Người trong nước Thái thọ sanh học tài.

       Phàn-Tu-Học thiên tài danh đạo,

       Lập công danh đào tạo Tử-Trì,

              Người Lỗ-quốc ở kinh kỳ,

Thông-minh trí-tuệ, củ-qui điều hòa.

       Công-Tây-Xích chiếm khoa lương thiện,

       Bậc tài nhơn tri kiến Tử-Huê,

              Người nước Lỗ, lưu bút đề,

Mở mang điền địa, khai quê tỉnh điền.

       Tử-Nhược vốn ngang-hiên lý luận,

       Tự Tử-Hữu giáo huấn nghiêm-trang,

              Người trong Lỗ-quốc đồng bang,

Công trình khai giảng chu toàn giáo dân.

       Trần-Can đạt tinh thần võ dõng,

       Tự Tử-Can phát động oai nghi,

              Tử-Cầm cũng một danh thì,

Người sanh Trần-quốc đạt thì tài thiên.

       Lương-Chuyển vốn thâm-uyên đạo-lý,

       Tự Tử-Lỗ tâm trí điều hòa,

              Người nước Lỗ, tánh vị tha,

Giáo dân vi luật điều hòa trị an.

       Công-Triết-Ai vinh quang khí tượng,

       Tự Quý-Trầm trưởng dưỡng tinh thần,

              Người Vệ-quốc, bảo toàn thân,

Trau-giồi kinh luật an thần định tâm.

       Thương-Cụ vốn tri tầm giáo-lý,

       Tự Tử-Mộc khắc kỷ truyền ban,

              Người Lỗ-quốc thị cơ-hàn,

Tâm linh đạt lộ giáo ban lộ hành.

       Nhiễm-Nhu-Hữu tâm thành huấn giáo,

       Tự Tử-Lỗ hoài bão tâm sanh,

              Người nước Lỗ, tánh điều hành,

An dân trị quốc ngọn ngành tóm thâu.

       Nhan-Tân-Phục tước hầu đồng vị,

       Tự Tử-Liễu thánh chỉ không tuân,

              Người nước Lỗ, giáo nhơn quần,

An-cư lạc-nghiệp triều thần hoan nghinh.

       Bá-Kiện-Tại danh thinh Lỗ-quốc,

       Tự Tử-Tích bẩm-chất thông-minh,

              Lập thành danh tánh pháp đình,

Khai thông luật pháp phạt hình trị nhơn.

       Tào-Ức-Đạt tuần huờn ôn nhiệt,

       Tự Tử-Tuân năng thuyết năng hành,

              Người nước Thái, rất tài danh,

Mở mang kinh tế thật hành tế dân.

       Nhiễm-Quý dụng tâm nhân đại để,

       Tự Tử-Sản hiếu đễ tuân hành,

              Người Lỗ-quốc sẵn tài danh,

Đồng chung chí hướng thật hành như trên.

       Công-Tôn-Long tuổi tên sáng lạn,

       Tự Tử-Thạch treo bảng đạt hiền,

              Người Vệ-quốc, đủ tư thiên,

Khai trường luân-lý phục yên gia tề.

       Tất-Điêu-Xải kỳ huê dị thảo,

       Tự Tử-Liêm đào tạo mộc danh,

              Đồng tên Tác-Xải tri hành,

Người trong Lỗ-quốc đạt thành công cao.

       Tần-Thương-Dược tâm bào sở nguyện,

       Tự Tử-Thương ý kiến thông minh,

              Người Lỗ-quốc tiếng danh thinh,

Hoát khai nhơn đạo dân sinh giải bày.

       Tất-Điêu-Đồ đức tài trau luyện,

       Tự Tử-Hữu học tiến-tăng thành,

              Đồng chung tên tộc tri-hành,

Tử-Văn nước Lỗ, kỳ danh sĩ tài.

       Nhan-Cao-Trí đức dày công đắc,

       Tự Tử-Kiều danh khắc Lỗ nhơn,

              Triết văn hướng đạo lai huờn,

Công danh gió tạt khê sơn ẩn mình.

       Thương-Đơn-Ngộ chơn tình bản tánh,

       Tự Tử-Hữu kiểm hạnh đoan trang,

              Lỗ-quốc Tử-Quý danh bàn,

Tuổi tên giáo dục an-bang vận nhà.

       Nhương-Tứ-Xích san-hà chí hướng,

       Tự Tử-Đồ trưởng dưỡng thi thơ,

              Quán thông tri lược tri cơ,

Lập thành quốc chánh phụng thờ tổ-tiên.

       Nhậm-Tất-Tề danh hiền chói rỡ,

       Tự Tử-Tuyển nước Sở hàn lâm,

              Văn chương tri túc trí tầm,

Chuyển thành thế hệ bao năm nắn nhồi.

       Thạch-Tác-Xúc tài bồi hạnh đức,

       Tự Tử-Minh tri thức khuôn viên,

              Tần quốc sanh tại tâm hiền,

Lập thành chơn thể tự nhiên giáo điều.

       Công-Thương-Nhụ đề tiêu thẳng thắn,

       Tự Tử-Chánh thọ lãnh danh truyền,

              Nước Trần sắp đặt chỉnh yên,

Vung tay xây đắp mối giềng trị dân.

       Công-Hạ-Cụ tinh thần thiết thạch,

       Tự Tử-Thừa lo trách-nhiệm hành,

              Lỗ quốc cư ngụ thoát sanh,

Lập thành quốc thể thừa hành căn cơ.

       Công-Kiên-Định tôn thờ đạo sự,

       Tự Tử-Trung gia ngữ Tác-Kiến,

              Đồng danh Tử-Trọng danh hiền,

Là người nước Lỗ lưu truyền Thánh-nhơn.

       Hậu-Sứ lập phục huờn quí tế,

       Tự Tử-Lý gia thế an nhiên,

              Thạch-Sứ danh tánh Tự-Kiên,

Người sanh Tề-quốc, tâm hiền hoát khai.

       Khiêu-Đơn dụng đức tài phổ huấn,

       Tự Tử-Gia ứng dụng từ tâm,

              Lỗ-quốc danh tánh đắc tầm,

Sống trong nội địa chú chăm giảng điều.

       Hề-Duy-Tế mộ triêu phấn khởi,

       Tự Tử-Triết danh lợi vô thành,

              Khổng môn cao đệ lưu danh,

Hề-Duy phục tánh đạt thành giáo dân.

       Hãn-Phục-Hắc kỳ thân danh tướng,

       Tự Tử-Sách độ lượng khoan dung,

              Nước Lỗ tộc lược tương phùng,

Danh vang Trung-Cổ thính tùng đạo môn.

       Diên-Tổ-Nhứt ôn-tồn lý trí,

       Tự Tử-Giá đạo lý uyên thâm,

              Lỗ-quốc phục vụ chú chăm,

Giải bày chánh pháp tri tầm chánh chơn.

       Vinh-Sớ-Học lai huờn kim cổ,

       Tự Tử-Kỳ quốc Lỗ dị nhơn,

              Tinh thần cổ võ lai huờn,

Hình dung hải đảo khê sơn chí đồng.

       Tần-Tổ học lảu thông luân-lý,

       Tự Tử-Thương tri kỷ tri nhơn,

              Người nước Tần, giáo lý chơn,

Hướng đường đạo hạnh phục huờn nhơn dân.

       Tả-Nhơn-Sính kỳ thân lập đức,

       Tự Tử-Hành tâm lực thông minh,

              Người nước Lỗ, học đăng trình,

Khai thông tư tưởng lý tình cao siêu.

       Câu-Tỉnh-Cương luật điều tu chỉnh,

       Tự Tử-Cương bản tính trầm ngâm,

              Người nước Vệ, chí quyết tâm,

Giải bày lý luận sưu tầm bí khoa.

       Trịnh-Quốc-Giảng dung hòa nhơn đạo,

       Tự Tử-Đồ đào tạo nhơn dân,

              Người nước Lỗ, cô-độc thân,

Lập thành danh thế, ấy phần sứ quân.

       Công-Tổ-Cú tâm thuần ý đạt,

       Tự Tử-Giá, hoạt bát ngũ luân,

              Người Lỗ quốc, trọng đức ân,

Chơn tâm hướng đạo quần thần tế an.

       Nguyên-Khanh-Trí an-bang tế-thế,

       Tự Tử-Tịch dụng kế giáo dân,

              Người Lỗ quốc, thọ quân ân,

Giáo truyền ngôn hạnh, nhơn thần tín trung.

       Huyện-Thành-Thiết trung-dung giáo hóa,

       Tự Tử-Hoành chí cả tài danh,

              Lỗ quốc giáo dục lập thành,

Khai thông tư tưởng, tượng thành cư an.

       Liêm-Khiết-Tạo tâm từ tế thế,

       Tự Tử-Tào nước Vệ hóa nhơn,

              Cổ-sử tu chỉnh lai huờn,

Giáo điều khai thác hòa nhơn đồng hòa.

       Yến-Cấp-Tánh kỳ hoa liên thạch,

       Tự Tử-Tu thể phách ôn nhu,

              Người nước Tề, khắp châu du,

Đưa đường giáo thuyết giải mù quốc dân.

       Thục-Thân-Hội hoan-hân tác dụng,

       Tự Tử-Kỳ lưu dụng tri cơ,

              Lỗ quốc đạo lý tôn thờ,

Khai thông trí tuệ dâng thơ tiến hành.

       Nhan-Chi-Bộc công danh đạo lý,

       Tự Tử-Thục ý chí lãm thông,

              Lỗ quốc hòa nhịp sống đồng,

Tinh thần thiết thạch quận công giáo điều.

       Qui-Tốn-Luật hoàng triều tu-chỉnh,

       Tự Tử-Liễm tùng thính ban hành,

              Người Lỗ quốc đã trứ danh,

Lập thành quốc thể thừa hành nhơn-luân.

       Nhạc-Quy-Đáo nhơn quần khai hóa,

       Tự Tử-Thinh thiên hạ lưu tâm,

              Người nước Lỗ, luật cao thâm,

Hân-hoan đạo-lý tri tầm giáo dân.

       Công-Tây-Dư thọ ân quốc thể,

       Tự Tử-Thương tế-thế an-bang,

              Lỗ quốc phụng sự chu toàn,

Giáo dân chi đạo đặt ban sứ thần.

       Tịch-Khắc-Tín thiên thần hạ thế,

       Tự Thiết-Chi, nước Vệ phò trì,

              Khai thông ngũ đạo hoàng-huy,

Lập thành kỷ luật trong khi giáo truyền.

       Khổng-Trung bực nhơn hiền gương sĩ,

       Tự Tử-Mậu, đạo-lý cao siêu,

              Dòng Khổng-môn nắm luật điều,

Ngũ-luân thông suốt mục tiêu dung hòa.

       Công-Tây-Tạng ái-tha ái-vật,

       Tự Tử-Thượng tánh chất thông minh,

              Người nước Lỗ, sửa luật hình,

Tạo cho dân chúng hồi minh giáo điều.

       Bộ-Thúc-Kiệt đình triều trọng dụng,

       Tự Tử-Sa hợp chúng tinh vi,

              Nước Tề mở rộng hội thi,

Chọn tài trạch đức đồng qui chánh triều.

       Thi-Chi-Thường đề nêu nhơn đạo,

       Tự Tử-Thường cấu tạo dân sanh,

              Người nước Lỗ, lập thân danh,

Lưu truyền hậu thế lập thành căn nguyên.

       Tần-Phi-Hội tánh hiền tiêu chuẩn,

       Tự Tử-Chi xây dựng đền môn,

              Giáo dân cơ thể bảo tồn,

Luật điều khai thác, ngục môn khai thành.

       Nhan-Phái, lập kỳ danh bản lịnh,

       Tự Tử-Thinh luật định hành tàng,

              Lỗ quốc phẩm lộc cấp ban,

Dung hòa luật cũ, chỉnh trang quốc hồn.

       Cần-Trương, tánh ôn tồn chơn thật,

       Dòng hiếu trung bẩm chất thông minh,

              Cán cân công luật giữ gìn,

Phát sanh Tần quốc danh thinh sáng ngời.

       Thân-Trướng người sanh đời mạt hậu,

       Học văn chương hiểu thấu luật sanh,

              Tự Hoài-Sanh học tri hành,

Khai thông quốc thái, lập thành khuôn viên.

       Du-Mã-Thi, Sơn-Điền danh hiệu,

       Lập giáo điều tiêu biểu hiền nhân,

              Tề quốc học chí hiếu thân,

Lập thành cổ miếu quân thần định an.

       Tôn-Nguyên, tự Tử-Toàn học đạo,

       Lòng vô tư cải tạo khuôn viên,

              Khai thông quốc vận đoàn viên,

Giáo dân vi nghiệp lưu truyền phân minh.

       Trịnh-Cốc đạt lý tình giáo dục,

       Tự Tử-Cầu tri túc thừa hành,

              Người nước Thái đủ tài danh,

Kiên tâm nhẫn chí chơn thành phò quân.

       Hà-Tùng-Như tâm thuần vô ngã,

       Tự Hoài-Âm hành giả vị dân,

              Người nước Hàn, đủ tâm nhân,

Xây thành tâm lý, thôn lân kỉnh vì.

       Tôn-Hạ-Võ kỳ thi đạt lộ,

       Tự Tử-Vân kim cổ suy tư,

              Người Vệ quốc, chí thiện từ,

Chuyển luân lân quốc thiên-thư luật điều.

       Tây-Tôn-Đạo đề tiêu căn bản,

       Tự Hoài-Nhơn cáng đáng phân minh,

              Người Sở quốc, tánh quang minh,

Phát huy định chế luật hình chánh công.

       Tô-Hồ-Ân tinh thông đạo lý,

       Tự Tử-Cầu tâm trí điều hòa,

              Người nước Vệ, văn toàn khoa,

Giáo dân hiếu đạo năm ba chơn truyền.

       Hồ-Mông, thọ ân quyền phẩm tột,

       Tự Cao-Văn rường cột Nho-tông,

              Người Vệ quốc, chí lãm thông,

Phát huy định chế nối dòng ngũ kinh.

       Trọng-Dụng, đạt danh thinh nước Lỗ,

       Tự Tử-Cường, tướng hổ, tâm từ,

              Trí thông minh, học hiểu dư,

Quyết đường khai thác, thiên-thư sẵn sàng.

       Trọng-Nghĩa tánh trực-cang bất khuất,

       Tự Dân-Sanh hình luật công đường,

              Chế tài phong-hóa kỷ-cương,

Giáo điều chánh pháp kỳ phương chỉnh đời.

       Châu-Bửu-Chế chẳng dời nguy khổn,

       Tự Hà-Xa căn bổn lưu truyền,

              Người Uông quốc, luận đạo Tiên,

Khai thông dân ý gieo truyền thế nhân.

       Tiêu-Chánh trọng tinh thần vi thiện,

       Tự Hiếu-Thân chuyên luyện tâm từ,

              Người Tần quốc, sanh an cư,

Thánh tâm ứng hóa thiên-tư nghiệp đồ.

       Nhà-Thầy nhắc điểm tô đồ đệ,

       Lưu lại đời hậu thế soi gương,

              Sanh tồn vạn đợi trần dương,

Tam-Kỳ Đại-Đạo Thánh đường nhuần ôn.

       Bao nghìn năm lưu tồn sử tích,

       Bởi thế trần áp dịch đổi thay,

              Ghi vào bản chánh lạc sai,

Nhà-Thầy chỉnh lại hậu lai lưu truyền.

       Kinh BÌNH-MINH đạo Tiên truyền bá,

       Dụng bút thần tá giả vi chơn,

              Hiếu trung tín nghĩa keo sơn,

Tồn tâm dưỡng tánh phục huờn bổn nguyên.

 

            Nhà-Thầy ban ân chư đồ-đệ. Thăng...

BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO III

 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 15-11 Canh-Tuất (13-12-1970)

Pháp Đàn: Bạch-Mỹ-Thông * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

____________

Thi:

HẢI đảo Nam-Sơn bớt gập ghình,

TRIỀU ngưng giọt nước lúc Bình-Minh,

THÁNH phàm phân tách nơi trần tục,

NHƠN phẩm tạo gầy dụng tánh linh.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chung chư đồ đệ. Giờ linh, Tôn-Sư thọ lịnh báo tin đến giờ tiếp Kinh. Vậy chư hiền đồ thành tâm tiếp giá Mẫu-Hoàng, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)

      DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ-CỰC TỪ-TÔN, Mẹ linh hồn mừng chung các con trần thế, an tọa.

Thi:

Nhắc đến đoàn con ở thế gian,

Lòng đau như cắt đứt can-tràng,

Nhớ nhung thác-quản hồn linh trẻ,

Chuyển bút hoằng khai mối Đạo vàng.

Mầm móng ương gieo gầy giống thiện,

Sanh chồi kết quả luật tuần-hoàn,

Bao năm tá thế trồi lên xuống,

Một kiếp huờn nguyên sẵn bách thoàn.

      Này các con, kiếp tạm trần nầy là trường tiến hóa cho các con tự trau mình học Đạo, hầu tiến triển trên đường thiện lạc mà đi đến tận nơi Tiên cảnh. Máy tuần-huờn đã mở cửa cho các con, tùy theo duyên kiếp mình, không phân biệt phú bần, miễn lòng các con quyết chí hy-sinh, lấy trí khôn suy tầm hầu giải oan những điều trái oan ràng buộc. Nay Mẹ chỉ đường vạch lối cho các con cổi mở nơi trần để thoát thân vào con đường sáng lạn. Như vậy, dù cho các con có thiếu phần tài nguyên cung cấp vật chất nơi trần, với tâm niệm bất di bất dịch của các con, thời cũng đạt thành chơn-ý. Thoảng, các con có đủ điều kiện sống thừa, các con có thể dựa vào đó mà lên mây xuống biển dễ dàng, nhưng nếu tâm trạng tinh thần các con không hướng thiện thì chốc lát sẽ trở thành giấc mộng.

      Này các con, xác thân của các con cấu tạo bằng tinh ba của âm dương chơn khí mà kết thành bản thể, từ ngày tinh ba kia được thành hình thì điểm linh quang đồng thọ, để cho bản thể kia cử động. Sự cử động dịu hiền ấy bắt đầu trưởng dưỡng theo luật tuần huờn. Mẹ hỏi các con: nhờ đâu mà tinh ba đó được trưởng thành một cách tự nhiên như thế? Từ khi điển quang Mẹ trao cho các con thì điển quang Mẹ hằng chan vào cung cấp cho mẫu bào, cung cấp sinh lực cho các con bên trong tiếp xúc, lằn dưỡng khí hô hấp cho thai bào từ từ sanh trưởng theo con số. Dưỡng khí mẫu bào đã cung ứng cho các con nguồn sinh lực. Dựa vào đó lần theo thời gian, các con sẽ thành hình thể. Sự trưởng dưỡng của xác thịt đến thời tiết phải xuất hình, như vậy các con thoát khỏi bào thai, mở mắt chào đời bằng tiếng “Khổ A” từ trong cửa miệng. Đó là giai đoạn các con đã vượt khỏi thế giới âm u, tiếp tục, các con nhờ nhục mẫu dụng nhũ-lực cung cấp cho các con kịp thời. Lúc bấy giờ, lòng các con chứa đầy Phật tánh, không gì cám dỗ, chỉ biết nuôi lòng bằng vú sữa. Lần lên ba, lòng các con vẫn còn trong trắng, không mến tiếc vật gì dù cho vật ấy đầy quý giá, bởi “Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện, tánh tương cận, tập tương viễn”, lúc đầu tánh tự nhiên hiền lành, nhưng sau vì tập quán mà xa lần bản tánh, bởi khi tiếp xúc thông thường của thế gian hằng ngày, vì biết ăn biết mặc. Ăn no mặc đẹp là thú vui của trẻ đang nhìn, và sự đòi hỏi màu sắc theo thời gian hiện hữu, biết được sự no đẹp thời các con đòi hỏi sự thỏa mãn nhu cầu. Đó là mọi điểm linh-quang đều giống nhau vì xác thân hành động. Không bao lâu, bản tánh các con đã biến đổi hẳn bởi tập quán diễn bày, vì khi biết no lòng thì các con cần phải có tài để đổi chác lấy, đổi lấy vật thực chua ngọt tùy theo ý thích.

      Trải qua giai đoạn, các con đã có sự thích muốn ấn đậm vào tâm trung. Giai đoạn nầy, các con đã biết liêm-sỉ, gái trai đã lưu ý nhau giữa thời gian chung đụng.

      Này các con! các con được hấp thụ sự huấn giáo của thế nhơn uốn luyện các con trở thành một tư tưởng kỷ luật trong khuôn khổ. Sự huấn giáo từ nét mực, từ con số, rồi đến xa hơn. Sự huấn luyện đã được ban truyền, lúc đầu dụng lễ nghĩa truyền vào tâm hồn các con cho quen thuộc. Khi mở mắt nhìn xem sự áp dụng hằng ngày của người huấn giáo, các con sẽ không quên, vì áp dụng lý thuyết và thực hành. Trái lại, khi sự huấn giáo vừa diễn bày cho trẻ bé thơ bồi bổ, thì mãnh lực áp dụng lại phản ảnh, khinh thường sự giáo điều. Đó là một điều làm mờ lu đi sự huấn giáo. Tập quán mạnh mẽ hấp thụ rất mạnh làm cho các con sa ngã vào con đường đang diễn tả. Đó là bản tánh của các con bị trộn nhồi.

Bài:

       Nhìn thấy con, lòng Già đau đớn,

       Thương lòng con mắc bợn trần gian,

              BÌNH-MINH chuyển bút luận đàm,

KỲ TAM thước ngọc khuôn vàng ban con.

       Thấy các trẻ, thon-von lòng Mẹ,

       Phân tích ra từ bé lớn khôn,

              Biết bao sóng gió dập dồn,

Làm sao che chở bảo tồn thân con?

       Trên Diêu-Điện đền son Mẹ đợi,

       Điểm linh-quang vì bởi mê trần,

              Vòng quanh đày đọa xác thân,

Làm cho con trẻ não cân miệt mài.

       Mẹ vô tư trần ai rọi điển,

       Con đồng con thực hiện thương yêu,

              Tuần huờn ấn sẵn luật điều,

Chỉ đường cho trẻ dắt dìu khuôn-viên.

       Phần phước tội thăng Tiên đọa quỉ,

       Phân hai đường Mẹ chỉ con toan,

              Nét sầu để lại trần gian,

Điều vui mang đến Thiên-Đàng hồi qui.

       Luật tuần-huờn không vì một trẻ,

       Bầu không-khí chuyển lẹ thế gian,

              Đó là dưỡng khí đã ban,

Cùng chung vạn vật con đàng tiến thân.

       Con không đồng, tinh-thần chinh-lịch,

       Con khôn-ngoan phân tích rõ-ràng,

              Nào là kinh sám khai-quang,

Mà tâm thiếu thiện khó hoàn vị xưa.

       Con hiền từ muối dưa hẩm hút,

       Đến ngày cùng trong lúc hồn rời,

              Như vầy cựu cảnh về nơi,

Lòng hằng từ thiện chớ rời bản căn.

       Con hữu phúc muôn ngàn vui thú,

       Nào ngựa xe quyến-rủ nghênh-ngang,

              Kẻ chờ người đón rộn ràng,

Lại qua đưa rước nhộn-nhàng trước sau.

       Đó vì bởi biết bao tu luyện,

       Còn kiếp trần tái chuyển xác nầy,

              Hưởng phần vật chất đắp xây,

Đó là quả thiện tạo gầy kiếp xưa.

       Con hưởng phúc sớm trưa lập quả,

       Nợ oan-khiên hãy trả tròn xong,

              Rèn tâm đức tính cõi lòng,

Kỳ-Ba Đại-Đạo thoát vòng trần ai.

       Đừng luyến thế đắm say vật chất,

       Nào kim ngân chứa cất đầy rương,

              Xa-hoa che lấp đầy đường,

Phấn son ngăn cách tình thương ruột rà.

       Dùng mỹ lệ xa-hoa ướp xạ,

       Mùi thơm-tho lấp cả linh hồn,

              Làm cho linh tánh vùi chôn,

Sống mà như chết, linh hồn mờ lu.

       Con thức tỉnh phá tù trần tục,

       Là hiện tại trong lúc vui say,

              Giấc nồng tỉnh lại đêm ngày,

Nhìn lên Diêu-Điện Bồng-Lai tâm hồn.

       Được như thế khỏi chôn linh tánh,

       Vượt dòng sầu vào cảnh vô hình,

              Sống trần khử ám hồi minh,

Nơi trần con hưởng phù sinh tại trần.

       Đây Mẹ nhắc là phần hữu phúc,

       Nhìn chung nhau trong lúc sống cùng,

              Biết bao sóng gió bão bùng,

Áo tơi tưa-tả vô cùng thảm thương.

       Cũng xác thịt tình thương của Mẹ,

       Cũng linh căn mỗi trẻ đồng nhau,

              Cũng chung một bọc khác nào,

Sao con thong thả, con vào khổ thân?

       Đó là bởi nợ trần vương vấn,

       Nợ tiền khiên chuyển vận đến nay,

              Đành cam vất-vả đêm ngày,

Tấm thân gầy guộc Mẹ rày thảm thương.

       Vì thiếu ăn, đêm trường tha thiết,

       Vì thiếu mặc, chi xiết ngày dài,

              Dù cho mưa tẩm gió lay,

Cũng không cổi bỏ cho ai thế cùng.

       Dầu gặp cảnh bão bùng đối xử,

       Vẫn bền lòng gìn giữ bản căn,

              Nào là chốn ở nơi ăn,

Nào là trói buộc xích thằng kềm chân.

       Da mặt rám, tinh thần gầy guộc,

       Mặc kiếp nầy trói buộc chặt lơi,

              Con ta suy nghĩ vậy thời,

Cẩm-nang hạ thế Mẹ thời trao cho.

       Nhìn xa hơn chung lò Tạo-Hóa,

       Trẻ bơ-vơ vất-vả ngoài đường,

              Nhìn qua Mẹ luống đoạn trường,

Vô hình nhỏ giọt, tình thương con trần!

       Khó thực hiện vì phần vô ảnh,

       Đau lòng con, con lãnh đành cam,

              Nức lòng Mẹ chạnh thở than,

Tầm phương giải thoát cứu nàn cho con!

       Nên khai Đạo chiều lòn độ trẻ,

       Giấc mê đồ, con Mẹ xa nhau,

              Như vầy con liệu làm sao,

Vô hình nhỏ giọt tâm bào nát tan.

       Phải trải qua bao ngàn năm đó,

       Chuyển Đạo mầu con có tin chăng?

              Phật xưa chẳng tiếng nói năng,

Làm cho con trẻ lòng hằng muội mê.

       Bao ngàn năm thảm-thê kiếp tạm,

       Chịu dày-vò giam hãm thân nầy,

              Ngày cùng khó tránh nghiệt dây,

Vô thường dẫn dắt, hồn nầy vào nơi.

       Nghiệt-cảnh-đài con thời chối tội,

       Cảnh thế gian mọi nỗi xuất hình,

              Con ta sống cảnh u minh,

Lòng hằng than thở động tình Mẹ đây.

       Vì khai Đạo tạo gầy giáo lý,

       Phật vô ngôn, ai chỉ con tường,

              Thế nên đành phải lạc đường,

Giờ đây hối hận, thảm thương con trần.

       Con chối lỗi, nơi trần không biết,

       Việc dữ lành phân biệt, ai phân,

              Làm cho tan nát tinh thần,

Giờ đây phải chịu nợ nần gánh mang.

       Tiếng than khóc hãm giam đau dạ,

       Chuyển Kỳ-Tam chi sá khai thông,

              Khai cơ chuyển bút đại-đồng,

Kỳ-Tam Đại-Đạo vượt vòng trầm luân.

       Tiếng phàm thế con từng quen thuộc,

       Để cho con trau chuốt tâm mình,

              Sống trần khử ám hồi minh,

Tùy theo trình độ, Mẫu tình độ con.

       Nầy hỡi trẻ lo tròn Đạo cả,

       Nên Phật Tiên đều hạ phàm trần,

              Cùng con kề cận bên thân,

Nhỏ to thủ-thỉ ân-cần dạy con.

       Nầy hỡi trẻ không còn chối lỗi,

       Rằng vô ngôn lầm lỗi ai can,

              Giờ đây con phải gánh mang,

Phật Tiên hạ thế dìu đàng con đi.

       Con tri kiến, nghĩ suy tấc dạ,

       Dụng thanh-tâm áo bả hài gai,

              Muối dưa giữ dạ đêm ngày,

Tinh thần vững đạt, Bồng-Lai con về.

       Nầy hỡi trẻ, lời thề trước điện,

       Hạ phàm gian vận chuyển tâm linh,

              Dẫn nhau núp dưới cội Huỳnh,

Bóng tàn che mát phù sinh tại trần.

       Nay Mẹ nhắc tinh thần là một,

       Lo trau-giồi rường cột là tâm,

              Con thăng hay đọa luân trầm,

Đều do chủ sử con tâm điều hành.

       Mang lông sừng, cầm sanh sa đọa,

       Hay Phật Tiên đều cả do TÂM,

              Con ta hiểu biết tri tầm,

Con đường Phật xứ là tâm đất lành.

       Cũng do tâm điều hành nhơn-đạo,

       Giúp cho đời cải tạo thích ưa,

              Nào là bát sữa, quả dưa,

Nào là cơm hẩm, vải thưa che mình.

       Tương-trợ nhau cho tình cốt nhục,

       Giúp cho nhau trong lúc đói lòng,

              Con ta được hưởng ân hồng,

Ấm no mát mẻ, cõi lòng nào yên.

       Mộng từ ái gieo truyền thế tục,

       Ương rải ra trong lúc mưa chan,

              Bón phân vun-quén dễ dàng,

Sanh chồi nẩy tược muôn ngàn yêu thương.

       Thêm vào đấy con đường từ thiện,

       Giúp quả-cô quan-điểm độc thân,

              Đó là nâng đỡ tinh thần,

Cùng là vật chất, cơ bần cầu xin.

       Đừng tẻ lạnh vô tình vô ái,

       Con khôn ngoan, con phải thực hành,

              Rèn lòng trau sửa tâm lành,

Treo gương sáng tỏ hậu sanh soi đường.

       Kìa vật chất trần dương đâu thỏa,

       Sẽ chuyển xây trăm ngã mất còn,

              Vàng ròng chất chứa bằng non,

Tinh thần đâu vững mỏi-mòn bền chăng?

       Hay chốc lát, sơn băng hải kiệt,

       Lòng con ta luyến tiếc ích gì,

              Kìa vạn khuỷnh có còn chi,

Mà tâm xáo trộn, thân thì héo khô.

       Đến kết cục Hớn-Hồ đều hỏng,

       Nhìn gương trông thấy bóng ốm gầy,

              Tinh thần tan nát đổi thay,

Sống mà như chết, ngày ngày khổ đau.

       Nầy hỡi con! Mẹ sao cứu vãn?

       Luật CAO-ĐÀI treo bảng không nhìn,

              Để theo cái kiếp mộng huỳnh,

Rồi đây phải chịu luật hình trả vay.

       Sớm ăn năn khỏi ngày hối hận,

       Nầy hỡi con sanh phận đời tàn,

              Sống dày-vò, có nào an,

Mơi vui, chiều lại thở-than khổ sầu!

       Nên suy nghĩ lo âu kiếp sống,

       Tánh thiện từ phát động bản căn,

              Ban cho luồng điển hóa hoằng,

Quang minh còn mất siêu thăng đọa trần.

 

            Giờ lành, Mẹ ban ân lành chung cho đàn con thế gian. Mẹ điển hồi Diêu-Động. Thăng...

 Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 11-02 Tân-Hợi (6-3-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

____________

Thi:

HẢI Bắc sóng nhồi dội tiếng vang,

TRIỀU Nam mây phủ khắp cung hoàng,

THÁNH tâm lọc lựa thanh phân trược,

NHƠN đạo thừa hành lịnh sắc ban.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư môn đồ. Giờ linh, Tôn-Sư thọ lịnh báo đàn. Vậy chư hiền đồ thành tâm tiếp lịnh. Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

Nét mực còn ghi để sám kinh,

Bút vàng hạ thế tả Bình-Minh,

TÂY miền thế kỷ còn bia tạc,

AN phận tá danh giác thế tình.

BỒ đảo dưỡng thần, thân bất hoại,

TÁT tâm tịnh tọa ngự đài linh,

Lưu hành thất ức tùng thiên luật,

Đề bảng khai thông chuyển Đạo Huỳnh.

      TÂY-AN BỒ-TÁT — Bổn-Sư mừng chư Thiên-mạng đồ đệ tông môn liên phái ứng hầu, Bổn-Sư miễn lễ.

      Kỳ Hạ-Nguơn tái tạo, đạo-pháp trùng hưng, hạnh ngộ thay! Thiên-Khai Huỳnh-Đạo, Đức CHÍ-TÔN hoát khai đường sanh lộ, mở lối cho chúng sanh từ bao thế kỷ liên tiếp với nhiều danh từ di dịch. Nhưng tựu trung là truyền tin NGỌC-ĐẾ lâm phàm tá danh CAO-ĐÀI THƯỢNG-ĐẾ hầu tập trung những tinh ba của các nền Tam-Giáo đương kim lập thành vạn thù qui nhứt.

      Nay chư đồ đệ đã đúng thời kỳ giao hợp, Bổn-Sư thọ lịnh MẪU-HOÀNG hạ trần tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ TAM hầu nêu bút tích từ xưa đến nay để lập thành một tinh thần bất diệt. Đó là cơ đại-đồng nhơn-loại.

      Đây nghe Bổn-Sư minh giải hai chữ “Đại-Đồng” cho tông đồ xác nhận:

      - Đây, Bổn-Sư quày lại quãng đường xa thẳm bao ngàn năm lập giáo. Sự sai biệt giữa tông-môn là nơi xuất xứ của Phật-Tổ giáng sanh, như qua bao thời ngã gục Ấn Hồi tương sát. Đó là một hiểm họa hệ phái phân tranh, làm cho giọt máu từ-bi từ từ chảy ra vô ý nghĩa.

      - Phần khác, sự riêng biệt giữa tông môn giáo lý Phật môn thành phần Cổ-Sơn Nam-Bắc; như vậy lấy đâu trung tâm ấn-tượng để tạo gầy một mục tiêu cho chơn truyền khỏi điều di-dịch.

      - Phần khác, sự riêng biệt giữa các tông đồ Thánh-Địa, truyền khai hai ngàn năm hầu mãn, biết bao dòng Thánh hệ, diệt tánh cải danh, đó là liên hệ nhơn-loại với ngoại chướng nội phân mà lịch sử đã đề ghi rành rạnh.

      - Phần khác, nền đạo nơi Nam triều chánh thống giáo lý nhập xứ truyền sang, nhồi luyện tinh thần dân tộc phải theo chiều hướng, để hưởng nhờ ân mưa móc sống còn yên phận. Vì thế, từ tư-tưởng, tinh-thần đều bị nhồi luyện làm cho tinh-thần tộc tính phai dần, mãi hướng theo đà vinh hoa danh-dự gắn vào mà quên đi phần cổ-truyền tộc tính. Vận quốc đang suy đồi, biết bao vĩ-nhân đang vùi ẩn dạng, cùng bao xuất xứ lộ hình, tương kế tựu kế, biết bao thay hình đổi dạng, miễn sao tạo gầy căn-cơ từ-thiện, hầu huờn phục lại dân-tộc tánh, dù cho bao căn-cơ tạo nên người, ngoại thể nội thân đều khác biệt.

Hoàng-Thiên bất phụ, xuất thế Kỳ-Hương

      - Vì sự tiến hóa mà bốn chữ “Bửu-Sơn Kỳ-Hương” hay “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” từ đâu mà hoàn thành danh chánh. Thời gian thay đổi qua màn lớp danh từ, trải bao thời kỳ ngoài thế-kỷ, mãi thay thân rọi đuốc chờ đến ngày ánh huyền-linh chiếu rọi khắp Nam-Bang.

      - Phần khác, sự thay thân của Đại-Giác Phú-Sổ đương kim sáng khai Hòa-Hảo Tây miền, lúc phiếm diện tàng thân cũng chuyển qua tam phân tứ tượng.

      - Phần khác, Đạo Cao-Đài xuất xứ Nam-bang, xuất hiện huyền-linh, không dụng tay phàm điều khiển, một nền Đạo tân kỳ với danh từ trọng đại để thống nhứt Tam-Giáo Ngũ-Chi, Đông Tây phối hợp, hợp thành duy nhứt tá danh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ hầu lập nên vạn thù qui nhứt bổn. Vì thế, từ hình thức lẫn nội dung của đạo nầy có phần đầy đủ, trên tôn nghiêm với danh từ, bên ngoài Tam-Trấn Oai-Nghiêm:

       Thánh: Quan-Vân-Trường tượng trưng công-bình cang-trực.

       Phật: Quán-Thế-Âm tượng trưng tiết-liệt từ-bi.

       Tiên: Thái-Bạch Kim-Tinh phần Tiên-Đạo dụng bác-ái, nắm luật Thiên-điều giáo đạo kỳ ba.

      Nhìn rộng sâu vào nội địa khắp Nam-bang vẫn còn bao danh từ phân biệt rõ ràng, nhận thức sự tôn thờ duy nhứt vì “Hoàng-Thiên hữu nhãn”.

      Như vậy đã vượt ngoài vòng đạo-pháp, kỳ Hạ-Nguơn tái tạo, phản hậu vi tiền, nên bậc CHÍ-TÔN phụ cận, để giữ mục tiêu căn bản cho Tam-Giáo Ngũ-Chi hạ trần. Ngài gom lại thành một, lập thành ĐẠI-ĐẠO, không phân biệt Thánh-Chúa, Phật-môn, Ấn-đồ, Tịnh-sĩ. Đó là dụng ý Đức CHÍ-TÔN lập thành nềnĐẠI-ĐẠO gồm giáo lý Đông Tây, phối hợp gọi là cơ đại-đồng nhơn-loại.

      Đó là một vị linh đơn kiết tụ đã có từ trước, Đông Tây phân chất, đơn phương áp dụng, đến nay kim cổ Đông Tây hòa hợp chất tánh dược để tạo thành viên linh đơn trị bịnh cho chúng sanh trong thời mạt pháp. Vì hiện nay chúng sanh chỉ nhìn vào và tiến theo con đường tiêu diệt.

      Nay Bổn-Sư mô tả bao thời kỳ lập giáo cho chư Tông đồ Liên-phái Bửu-Sơn cần lưu ý, vì lời nguyện tấu đến Ngọc-Kinh nên Bổn-Sư hạ trần minh giải. Nay đã đến lúc nhơn hòa địa lợi nên mọi hình thức rất thích hợp.

      Vậy chư tông-đồ cần gìn giữ cơ đồ đạo-pháp.

Bài:

       Đời đã chuyển, BÌNH-MINH xuất hiện,

       Đạo khai thông tân-tiến thượng đời,

              Ai qua kiếp số lò trời,

Những người chiến sĩ trong thời Đạo khai.

       Nhìn viễn ảnh niên lai sẽ thấy,

       Chung quanh mình cạm bẫy bủa giăng,

              Giải ra bốn mối nợ hằng,

Thước khuôn đã vạch mức lằn đòn cân.

       Tá trần gian nắm cân lường đấu,

       Điển Tiên-Thiên rọi thấu trần miền,

              Hình dung sắp lại mối giềng,

Tầm chơn tu luyện gieo truyền đó đây.

       Luật tuần-huờn trở xây như chóng,

       Chạy theo hình là bóng nào rời,

              Con đường Đại-Đạo buồm khơi,

Xuôi dòng nước lộn đò Trời cứu nhơn.

       Nhìn viễn ảnh Tòng-Sơn xuất hiện,

       Đoàn-Minh-Huyên vận chuyển giác linh,

              Ngược dòng một chiếc thuyền tình,

Trà-Bư thẳng lối nhơn tình Thạnh-Trung.

       Lòng bác-ái vô cùng tế thế,

       Vì muội mê tầm kế bôi danh,

              Âm mưu sát hại sao thành,

Sứ Trời thọ mạng, nào sanh tử gì.

       Muốn tránh họa lây thì cho thế,

       Lập Phật đường dụng kế tu trì,

              Bá tánh Bửu-Sơn quy y,

Rạnh đề tứ tự vậy thì màu son.

       Nay bút tích ngòi son Thầy điểm,

       Tô nhãn thiên vào hiện trung ương,

              Tùy theo hình thức tri tường,

Hòa đồng liên phái lập trường phân minh.

       Kìa bút tích chạm hình khắc cốt,

       Nào Thới-Sơn rường cột Nhà-Bàn,

              Trần điều một tấm vẻ-vang,

Thay hình đổi dạng nào tàng lòng ta.

       Phận truyền bá nơi tòa Bạch-Ngọc,

       Tá phàm gian lừa lọc nguyên căn,

              Dù cho gặp cảnh trầm thăng,

Kiếp đời nào vẹn tợ trăng khuyết tròn.

       Lời bạch tấu ngòi son lưu lại,

       Cho Hòa-Đồng Liên-Phái ứng hành,

              Hòa-đồng nhựa sống nhơn sanh,

Xây nền đắp móng lập thành khuôn viên.

       Gìn căn bản Tây miền lưu tích,

       Mãi truyền ra lời hịch tựa đề,

              Bá gia tùng đạo trọng thề,

Giáo điều nguyên tắc tựa kề Bửu-Sơn.

       Ngoài trăm năm tiếng đờn khoan nhặt,

       Ghi nơi lòng gieo rắc bá gia,

              Giờ đây huynh đệ thuận hòa,

Lập thành liên phái Bửu-Tòa chỉnh trang.

       Thọ sứ mạng MẪU-HOÀNG chuyển bút,

       Tả BÌNH-MINH trong lúc khai thông,

              Con đường đạo-pháp đại-đồng,

Tinh thần nhứt bổn Sơn-Tòng Bửu-Sơn.

       Xây Thánh-Đức phục huờn Đại-Đạo,

       Gom vạn thù cổi tháo trầm luân,

              Móng nền chờ đợi chín từng,

Sắc truyền hạ thế hợp quần nữ Tiên.

       Ân tái tạo kỉnh Thiên hành đạo,

       Thứ nhứt là tùng giáo Đạo Trời,

              Tế thần linh, ấy thuận Trời,

Hai là lễ tạ Đất Trời chí linh.

       Ba phụng sự thâm tình thất tổ,

       Dụng hiếu nhà tế độ ngoại môn,

              Bốn là trau sửa chơn-hồn,

Song thân cấu tạo lưu tồn mẹ cha.

       Năm cụ pháp đó là triêu lạc,

       Tu gìn lòng chớ bạt lối xiêu,

              Sáu là sư-phụ đề nêu,

Tuân hành chánh pháp luật điều Tôn-Sư.

       Bảy chánh nghĩa tâm từ huynh đệ,

       Tình cốt nhục như thể tay chân,

              Tám là dụng nghĩa kim thân,

Đó là nha-trảo tinh-thần thương yêu.

       Chín căn bản luật điều hòa thuận,

       Tình chôn nhau cắt rún một thân,

              Mười là phụ cận ân cần,

Phần hương ngoại thể tình thân một nhà.

       Thập giới lo kỳ-ba tu chỉnh,

       Điển linh-quang Thầy định giờ đây,

              Hạ-Ngươn chuyển Thượng bút nầy,

Xây nền Thánh-Đức Đông Tây một nguồn.

       Bửu-Sơn kỳ tiên-phuông tiền-đạo,

       Lập thành hình phục đáo căn-cơ,

              Thiên-điều luật định đồ-thơ,

Lập thành nhứt mạch tình sơ đạt thành.

       Xây Thánh-Đức tồn sanh bổn thiện,

       Lòng hy sinh như biển Bình-Dương,

              Giờ đây vạch vẽ con đường,

Tu tề trị loạn dọn đường Phật lai.

       Luật căn bản hoát khai từ thiện,

       Tế đời nguy vận chuyển tâm tư,

              Tình đời giục tốc tất hư,

Đạo tình thắm đậm thuyền từ cứu nhân.

       Gom mật truyền đời tân xây dựng,

       Lập tam-đài tiêu chuẩn Tây-An,

              Truyền tin thế sự bước sang,

Trăm năm lưu lại sám vàng còn ghi.

       Chuyển bao kiếp vậy thì một điển,

       Phật Thánh Tiên xuất hiện phàm thân,

              Thưởng răn ghi để tại trần,

Con đường hiếu nghĩa ân-cần lời khuyên.

       Ân sư-phụ mối giềng đạo cả,

       Ân dựng truyền vàng đá nào phai,

              Ân nhà nợ nước tròn hai,

Ân đời đền đáp miệt mài tâm tu.

       Hiếu đạo trọn lao-cù sanh-hóa,

       Hiếu dưỡng dục chi sá mòn sai,

              Hiếu đành nhỏ giọt tương lai,

Hiếu măng chớm nở râu mày chí kiên.

       Nghĩa tôn trọng lưu truyền cao quí,

       Nghĩa tử-quân chung-thỉ một màu,

              Nghĩa là chí-sĩ thanh cao,

Nghĩa đồng sanh tử ai-đào vẻ-vang.

       Tình nhơn loại muôn ngàn giá đẹp,

       Tình đệ huynh đanh-thép nào so,

              Tình đời, đạo hóa chung lò,

Tình sâu cực phẩm thơm-tho danh hiền.

       Lưu bút ký trần miền bá tánh,

       Truyền Bình-Minh thọ lãnh vai tuồng,

              Thành tâm từ thiện một khuôn,

Tu là nỗ-lực, ấy nguồn sám kinh.

       Nhìn bá tánh nhơn tình xây dựng,

       Nào nhơn phi Nghiêu Thuấn hậu tiền,

              Sám còn lưu lại trần miền,

Bản năng tu chỉnh mối giềng lạc sai.

       Cơ đại-đồng sắp bày rộng mở,

       Tình cốt nhục đành gỡ nợ ân,

              Chia cơm xẻ áo nợ trần,

Thuyền từ một chiếc thẳng lần Nam Thiên.

       Hòa chung nhịp hậu tiền Đại-Đạo,

       Hiệp chung tay khải-giáo tông môn,

              Nam-bang thọ sắc bảo tồn,

Kỳ danh bất diệt, CHÍ-TÔN chủ quyền.

       Bửu-linh-kỳ thế thiên hành hóa,

       Sơn thần xây tảng đá đầu tiên,

              Cao-Minh xuất hiện Hoàng-Thiên,

Đài-Cao tân pháp mối giềng căn cơ.

       Qui Thánh-thể thiên-thơ tiền định,

       Truyền Bình-Minh thọ lịnh triều môn,

              Quyết tâm quyết chí bảo tồn,

Thể hình một bóng CHÍ-TÔN luật điều.

       Chuyển bao kiếp mục tiêu giải khổ,

       Dụng nhơn tình tế độ lòng nhơn,

              Bình-Minh xây đắp phục huờn,

Ngũ thập thất đáo Trung-Nguơn du hành.

       Lưu cẩm nang tồn sanh bất diệt,

       Sanh tại thổ, tử diệt, thổ qui,

              Kỳ-Ba Đại-Đạo Tam-Kỳ,

Giáo dân Nam-Thiệm hồi qui chánh truyền.

Kệ:

          Nền Đạo-pháp chuyển xây truyền sanh chúng,

          Cuối Hạ-Nguơn sử dụng địa hình khai,

          Tát đìa Nghiêu chưa cạn lại than dài,

          Kìa ruộng Thuấn đang cày sao lại ngán?

          Ngoài trăm năm Bửu-Sơn còn đậm bảng,

          Bao xác phàm thay dạng giải trần mê,

          Khóc rồi cười, xem lại cẩm nang đề,

          Cười rồi khóc, trần mê cần tu học.

          Mùi ngon ngọt thế phù câu ngạnh móc,

          Phật dạy đời lừa lọc dấu chơn đi,

          Cha dắt dìu muôn thuở lắm lôi trì,

          Thầy cứu thế hồi qui vi Thượng-Cổ.

          Kìa hướng Bắc chòm sao đẩu tinh đà ứng lộ,

          Xẹt vào Nam khắp chỗ ánh hào quang,

          Chiếu tường-vân ngũ-sắc khắp Nam-bang,

          Bừng giấc mộng huy-hoàng cơn ảo-ảnh.

          Nhìn rộng khắp môn-đồ trong bá tánh,

          Hòa tâm tư hưởng cảnh Thuấn Nghiêu thiên,

          Tả BÌNH-MINH thất ức đắc lịnh truyền,

          ĐỆ-TAM quyển lời Tiên ghi bia tạc.

 

      Bổn-Sư ban ân lành chung. Bổn-Sư điển hồi Tiên cảnh.

      Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 15-04 Tân-Hợi (8-5-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

____________

Thi:

HẢI đảo sóng chao, núi gập ghình,

TRIỀU ngưng giọt nước lúc Bình-Minh,

THÁNH tâm yên tịnh xây nền móng,

NHƠN phẩm tùng lai đạo phát sinh.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ. Đến giờ tiếp Kinh, Tôn-Sư đắc lịnh báo đàn.

      Vậy chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

GIA pháp chơn truyền đã tóm thâu,

 bồi nền tảng khắp hoàn cầu,

GIÁO dân tiểu quốc vùng Nam-Thiệm,

CHỦ sử huờn lai thế giới hầu.

 bút huyền linh xây Thánh-Địa,

Thế trần nguyên bổn dựng đài lâu,

Kỳ phang nguơn hạ huờn vi thượng,

Tam thể phục nguyên máy nhiệm mầu.

      GIA-TÔ GIÁO-CHỦ — Ta mừng chung Thiên-sứ sứ đồ an tọa. Ta thọ lịnh DIÊU-TRÌ tả Kinh, nên chuyển huyền linh hạ thế.

      Nầy chư Thiên-sứ, sắp chấm dứt hai ngàn năm lập giáo, giáo dân dụng hữu hình. Ta đem thân này để chuộc tội cho thế gian. Đó là thời kỳ Trung-Nguơn thắng hội.

      Trải qua bao thời gian lập giáo, Ta gặp phải biết bao nhiêu điều lao khổ như chư sứ đồ đã nhìn thấy trên sự tích di truyền. Dòng chữ lưu hành tuy có đôi phần di dịch, nhưng đó không phải là điều tuyệt đối vì những tiên tri đã xuất hiện. Nay cuối Hạ-Nguơn chuyển lập đời Thượng Nguơn tái tạo trùng hưng do Đức Thượng-Đế khai sáng chuyển sang đời Thánh-Đức, Ta chuyển điển linh dụng cơ huyền diệu-bút tá danh Cao-Đài; để xây dựng cảnh Thiên đàng nơi thế gian mà Nam-bang đầu tiên thụ giáo.

      Luật tuần-huờn đã ấn định, cuối Hạ-Nguơn lòng Thánh Đức đã phai mờ, nên nhân loại tranh giành lẫn nhau tìm mưu mô xảo quyệt sanh sát lẫn nhau hơn là tương trợ lẫn nhau, vì quyền lợi vật chất, mạnh thắng yếu thua, xây lầu đài trên bao xác chết, miễn là tìm vinh hoa phú quí cảnh phù vân cõi tạm. Sự tranh quyền vật chất đó có gì là tồn tại đâu? Nhìn thấy sự lạnh lùng của đoàn chiên đang vẩn-vơ nơi mặt đất, Ta rất động lòng thương xót! Sự hưởng cảnh tự nhiên được tạo lập nơi miền sơn dã, đó là cảnh vật tự nhiên sanh-trưởng để cho vạn vật đồng chung hưởng, không tư riêng vị kỷ.

      Giờ thọ lịnh Diêu-Trì tả đôi đoạn, chư Thiên-sứ cần tìm hiểu để hòa mình trên con đường đạo đức. Những điều mới lạ vừa xuất hiện trên cõi Trời Nam, kỳ trung đã tiên tri hai ngàn năm còn ghi trên Cựu-Ước. Đó là những nền tảng từ xưa, nhưng nay Ta là người nắm bản đồ xây dựng.

Bài:

       Chuyển thế-giới đại-đồng mở hội,

       Truyền khắp nơi sẵn lối dung hòa,

              Sê-Gia (César) trả lại Sê-Gia (César),

Bầu Trời Tạo-Hóa điều hòa võ phong.

       Nền văn hóa tuy không đồng chủng,

       Vì hình dung tiêu chuẩn khuôn viên,

              Khác nhau thời tiết trần miền,

Khác nhau màu sắc dữ hiền một khuôn.

       Nhơn-loại phân do guồng Tạo-Hóa,

       Lập giáo điều huấn cả nhơn-sanh,

              Tùy theo phong thổ vận hành,

Tùy theo lễ giáo lập thành đạo tông.

       Khắp nhơn loại trong vòng vũ-trụ,

       Để khai thông hấp thụ quang minh,

              Xây thành thể đạo quang vinh,

Đông Tây phân tích, nghĩa tình một thôi.

       Nhìn trước mặt trong hồi Nguơn-Hạ,

       Lập Thượng-đời khắp cả nhơn gian,

              Cơ Trời chuyển lập tuần-hoàn,

Kỳ Ba xây dựng Thiên-Đàng Việt-Nam.

       Đạo khai sáng phân tam nguồn gốc,

       Thánh tăng đồ chọn lọc Thái-Tây,

              Jésus bản thể thân nầy,

Hữu hình chuộc tội độ rày chúng sanh.

       Vì quyền lợi tranh giành đạo-pháp,

       Vì ghen ghét bắt nạp xác thân,

              Huyết rơi máu đổ giá thần,

Đó là xác thịt, tinh thần sạch trong.

       ố thắng kỹ trần hồng sanh sát,

       Chuyển huyền linh khai hoát Tây Đông,

              Vận hành nhị thiên giáp vòng,

Nam-bang nhược tiểu ân hồng Hoàng-Thiên.

       Nền văn hóa cổ truyền gìn giữ,

       Vì lễ nghi cư xử đông phương,

              Lập thành Đại-Đạo Trung-Ương,

Vận hành thế giới con đường Nam-bang.

       Nhìn trước mặt Đạo vàng tái lập,

       Luật Thiên-điều bày sắp phân minh,

              Xây nền quốc thể quang vinh,

Tông-đồ ngơ ngác khó nhìn được Ta.

       Đấng Cứu-Thế Kỳ-Ba đà hiện,

       Xuất CAO-ĐÀI vận chuyển bút linh,

              Khai thông vũ trụ một hình,

Tiếp thu lằn điển khai minh chơn truyền.

       Kìa César chủ quyền để lại,

       Hỡi tông-đồ cả thảy thông minh,

              Xây nền Thánh-Đức khai minh,

Luật điều vẫn một, tự tình một thôi.

       Nền quốc-đạo trong hồi xây chuyển,

       Chư tông-đồ thể hiện thân nầy,

              Con đường Đạo-Pháp Đông Tây,

Lập thành Đại-Đạo đắp xây nhơn hòa.

       Nhìn nhơn loại chung nhà đồng hưởng,

       Nhìn Tây Đông đối tượng điều hòa,

              Nhìn nhau hình bóng một mà,

Nhìn nhau linh điểm một Cha chia đều.

       Đất Nam-giao mục tiêu chói sáng,

       Ánh hào-quang chiếu rạng Đài-Cao,

              Xây thành chánh-pháp nêu cao,

Đó là Cơ Đạo Đài-Cao chủ quyền.

       Lập chánh thể trấn yên quốc thể,

       Lập Thượng-đời cho thế biết đời,

              Lập thành thể Đạo thuận thời,

Quyền năng Tạo-Hóa cơ Trời sắp xây.

       Nền Thánh-Triết tạo gầy thời sự,

       Đưa hiền nhơn hội dự Nam-thiên,

              Lập thành Thánh-Đức mối giềng,

Quyền năng Tạo-Hóa gieo truyền Đạo tông.

       Hỡi tông đồ! bão lòng đã sắp,

       Nên chận ngăn để dập sầu thành,

              Chánh-pháp đà diệt bất sanh,

Chuyển sang thế hệ lập thành Nam-bang.

       Giờ chuyển sắc Đạo tràng khai hoát,

       Chư tông-đồ nên đạt điều hòa,

              Đó là quốc-đạo lập ra,

Xây thành Đại-Đạo hiệp hòa Đông Tây.

       Được vinh hiển sắc nầy Nam-Việt,

       Lập Thiên-đài cần biết Đạo-môn,

              Châu nhi phục thỉ lai huờn,

Sắc Trời đã định xuyên sơn đổi dời.

       Tả Bình-Minh đôi lời lưu lại,

       Cho tông-đồ thời đại chiến tranh,

              Hồi đầu phản bổn phục sanh,

Tiếng còi bay khắp nêu danh Nam-triều.

       Nên nhìn kỹ mục tiêu Đại-Đạo,

       Bao bọc ngoài cải tạo Đạo-môn,

              Nội dung nền Đạo bảo tồn,

Ngũ-Chi Tam-Giáo đồng môn sắc truyền.

       Xây đất Thuấn chủ quyền Tạo-Hóa,

       Dựng trời Nghiêu áo bả toàn linh,

              Quyết tâm khai sáng Đạo Huỳnh,

Ân ban Thiên-sứ BÌNH-MINH sáng lòa.

      Kìa trên đồi cao sừng-sựng bao tảng đá chất chồng với những cành cây liên tiếp dựng gài nhành so lá để che ánh hồng quang của mùa Hạ thiêu đốt. Bên dưới, một đoàn chiên đủ loại đang chen chúc núp dưới bóng dù phong cảnh. Nhìn sự lạnh lùng của đoàn chiên dịu hiền đang nghênh ngang đứng nằm, lấy thần quang quan sát, kìa lằn dương khí đã xuất hiện và ánh hào quang đã bao trùm trên đồi nọ. Một cuồng phong nổi dậy bên triền núi, trận cuồng phong hoành hành phong tỏa khắp nơi làm cho những tảng đá gồ-ghề đang trơ mình trước phong cảnh dường như bị lay chuyển, dời đi chỗ cố định tự bao ngàn năm qua một nơi khác. Đó là cảnh vật bất động từ lâu của thiên nhiên, phong cảnh của Thần Xuy đùa cợt.

      Sự chấn động của cảnh hồng trần là việc bất trắc đó, đều do thời tiết vận hành. Luật tuần-huờn ấn định do bàn tay vô hình của Tạo-Hóa sắp đặt. Luật tuần huờn đã báo hiệu cho nhơn loại để tìm cách tránh cảnh đe dọa của Thiên-điều.

      Kìa trận cuồng phong đang nổi dậy nơi sơn khê triền núi với tốc độ cực cao của cuồng phong làm cho mọi vật khi ngộ cảnh đều phải kinh tâm trụ hình thiếp mắt, để tránh những hạt tế-vi bay lăn xả vào quang nhãn. Với trận cuồng phong cực độ vừa xảy ra, thì trận hồng thủy xuất hiện để lôi cuốn đi những vật đang chống đối, đoàn chiên non lạc loài vì phong ba đành phải chịu trôi theo dòng nước lũ. Nhìn thấy đoàn chiên đang trơ-trọi giữa nội địa đang tầm vật thực, hỡi ôi! khi gặp phải thì đành phải chịu quay cuồng theo dòng nước cuộn.

      Sự vong tồn của nhơn loại là sanh sanh diệt diệt, như thế cần phải phân minh, để vượt qua màn bí mật.

      Sự săn đón do bàn tay thợ tạo bủa lưới, lưới nhơn loại đem về nơi hằng sống.

      Sự sống của nhơn loại khắp trên hoàn cầu, dù cho tâm tư thiên hình vạn trạng, chung qui là đi tìm lẽ sống phồn hoa hơn là thanh tịnh.

      Kìa màn nhện bủa giăng vô hình đã đón tiếp biết bao sinh vật cao thăng đưa đẩy vào nơi cạm bẫy đầy luyến ái. Thế nên sự vĩnh-cửu trầm luân của nhơn loại mãi luân chuyển theo định mạng. Trong bầu trời trống không thơi thới để cho bao sinh vật qua lại thong thả, tự do sưu-tầm hạnh phúc.

      Sự hạnh phúc là cõi linh hồn thong thả, nhắc cho ta nhớ đến bổn phận khi thọ lãnh trách nhiệm vào địa phận.

      Sự hạnh phúc hiện tại, làm cho dìm đi linh hồn, vì chư sứ đồ không nhìn vào đây là ánh sáng mà nhãn quang của chư tông đồ bị nhục nhãn áng che. Tất cả mọi sinh vật đều có một tầm quan sát giới hạn; vậy là tối linh vạn vật cần phải phân: đâu là hoàng hôn, đâu là quang đãng, mới có thể vượt qua màn nhục nhãn áng che; để nhìn thấy màn bí mật.

      Giờ thọ lịnh Diêu-Trì lưu lại đôi điều, chư Thiên-sứ cần phải tri tầm những lời hữu ích của Ta. Vì sự lúng túng của chư Thiên-sứ rất nghi ngờ khi nhìn vào điều vô hình tá bút nên Ta đôi lời phân nhắc. Trước kia Ta hạ trần bằng xác thân, nhưng bị vật ám mờ tầm cách giết hại Ta, để dìm đi ngôi sao đang chói sáng. Nhưng hậu quả không được vì Ta vâng lịnh Thiên-mạng. Kỳ Hạ-Nguơn mạt tận, Ta tá bút bằng vô hình ban truyền linh điển, phân thân biết bao nhiêu để lập thành nền Đại-Đạo như cõi trời Đông, Ta xuất hiện khắp nơi để chỉnh đời sửa thế. Sự phóng tỏa huyền linh chưa đầy bán thế kỷ mà sự trưởng thành của Đạo được sáng tỏ, đem so sánh với các nền cựu-giáo đứng ngang hàng quan trọng.

      Vậy nay Ta tá huyền-linh để nhắc nhở đôi tôi trai tớ gái của Ta tiếp thu hầu lập nên nền tảng, cho đời ghi lại làm căn bản. Đó là nền Đại-Đạo như chơn-truyền hiện hữu, chư Thiên-sứ đang hữu hình thực hiện lời truyền của Ta. Ngày tận thế đã diễn bày khắp trên thế giới đều chung chịu sự tiêu diệt của thời Hạ-Nguơn.

      Giờ ban ân lành chung, Ta điển hồi Tiên cảnh.

      Thăng...
 

BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO III

 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 15-05 Tân-Hợi (07-06-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

___________

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN.

Thi:

HẢI đảo sơn lâm thọ bẩm Trời,

TRIỀU nghinh Đạo pháp khắp dòng khơi,

THÁNH tâm xuất hiện vầng mây bạc,

NHƠN phẩm tu mi chẳng đổi dời.

      Tôn-Sư mừng chư môn đồ.

      Giờ tả Kinh, Tôn-Sư báo đàn, chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh chư Thánh-Mẫu hạ trần tả Kinh.

      Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

 hoắc nuôi lòng điển tiếp cao,

SƠN trân mỹ vị hại tâm bào,

THÁNH Thần tùy giác hiền Tiên Phật,

MẪU thọ Diêu-Cung đạm bút vào.

      LÊ-SƠN THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ, an tọa.

      Giờ thọ sắc Diêu-Cung chuyển linh bút tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM lưu đề bút tích.

      Nầy chư môn-đồ, cảnh vật ngổn ngang nơi cõi thế phù đầy phức tạp, để an ủi lòng cô đơn chư môn đồ, Tôn-Sư lưu đề đôi dòng mô tả cảnh trạng đương kim mà chư môn đồ đã bị vòng vây bể trần dập khỏa. Trên mặt đất, nẻ đầy đường quanh co ngang dọc, chia thành manh mún của nền đất Mẹ bao hình. Một di sản tối linh chen chúc đang dày vò mạng sống, cảnh phiêu lưu vất vả đã chôn thân bảy thước đành cam. Đó là tinh thần bị nô lệ vì xác thân điều khiển để thỏa mãn lòng phàm mà xác thân yêu quí này ngày nay, rồi ngày mai phải chịu trịu-trằn lặn hụp. Sự luyến tiếc đành cam nhốt trí vì tương quan liên lụy đến linh hồn mờ lu, đó là do xác thân nhục dục điều khiển.

      Vậy chư môn đồ cần phải đánh thức lòng phàm, để nhận xét mà thực hiện chương trình hoạch định. Mọi sự lạnh-lùng nơi thế đều phải chịu theo dòng thế hệ.

Bài:

       Nền cổ học tinh hoa xây dựng,

       Máy kiền-khôn triệu chứng ba màu,

              Hạ-Nguơn xuất hiện ĐÀI-CAO,

Tam-Kỳ Phổ-Độ phục vào Thượng-Nguơn.

       Chuyển linh bút, LÊ-SƠN đề bảng,

       Cho môn đồ tường hản hồng trần,

              Sống trong kiếp tạm tao tân,

Vượt qua bể khổ nợ trần trả xong.

       Luật tuần-huờn chí công, chí chánh,

       Máy âm dương ngộ cảnh ngộ nhân,

              Lòng phàm minh định cân phân,

Lệch chênh vay trả nợ nần tiền khiên.

       Hỷ hoan dụng danh quyền tất hại,

       Hỷ cùng hoan thừa thãi lòng tu,

              Hỷ là đạt đặng công phu,

Hỷ cho người đạo phá mù trần gian.

       Hỷ vốn ở truy hoan thời cuộc,

       Hỷ lạc quan ngọn đuốc giữa đường,

              Hỷ là mến cảnh rau tương,

Hỷ hoan đồng bước thẳng đường yên vui.

       Hỷ tiêu khiển hưởng mùi thanh đạm,

       Hỷ là mừng cõi tạm vượt đi,

              Hỷ phùng thượng hạ tôn ty,

Hỷ vưng sứ mạng hồi qui Diêu-Đài.

       Mừng đạo-đức không sai đường hướng,

       Mừng nhơn hòa trưởng dưỡng tu tâm,

              Mừng là đạt đặng huyền thâm,

Mừng chi vật chất luân trầm bể vơi.

       Mừng nhơn tử lưu thời danh tạc,

       Mừng đời mê giải thoát mộng trần,

              Mừng là ngộ cảnh tu thân,

Mừng thay Đại-Đạo đạt phần vinh quang.

       Mừng nếm đặng Đạo vàng tại thế,

       Mừng là mừng thoát bể trần hồng,

              Mừng cây Tạo-Hóa chí công,

Mừng danh chuốc lợi bụi hồng phủ bao.

       Giấc mộng điệp Ai-Đào tan vỡ,

       Luật tuần-huờn khai mở thưởng răn,

              Lánh xa bể tục trịu-trằn,

Lánh xa luyến ái hóa hoằng kiếp sanh.

       Sống cô độc cam đành đen tối,

       Sống chung nhau đường lối hiểu am,

              Đại-đồng khai mở Kỳ-Tam,

Môn đồ thẳng đến để làm Nữ-Tiên.

       Chớ mê mộng xích-xiềng ràng buộc,

       Mở tâm hồn sẵn đuốc Đài-Cao,

              Tôn-Sư ban bố điển vào,

Trần tình Nữ-Đạo kíp mau chơn quày.

       Hỡi môn đồ: nữ tài tấn bước,

       Nơi Diêu-Đài đón rước Nữ-Tiên,

              Kỳ công phản bổn phục nguyên,

Thừa vâng sứ mạng chỉ truyền đồ môn.

       Lưu bút ngọc ôn-tồn học tập,

       Cho môn đồ xây đắp phân minh,

              Nữ-Đoàn Đại-Đạo hồi minh,

Trấn an thoát tục đời tình dẹp yên.

 

            Tôn-Sư ban ân lành chung, chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 15-05 Tân-Hợi (07-06-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

___________

(Tiếp điển:)

Thi:

ĐÀO lý đua nhau phúng nhụy đầy,

HOA đơm tươi thắm khắp nhành cây,

THÁNH nương ngự bút đề văn áng,

MẪU thọ Diêu-Cung hạ sắc nầy.

      ĐÀO-HOA THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ, an tọa nghe Tôn-Sư truyền bút.

      Nầy chư môn đồ, sự mô tả cảnh thế phù dưới ngọn bút thần do điển Tiên-Thiên vô hình vận chuyển. Một khung cảnh bao bọc bởi bầu trời đẹp đẽ, biết bao lằn tia xẹt của lằn sao chớp nhoáng. Với khung cảnh của thiên-nhiên định sẵn công bình, vô-tư vĩnh-cửu, giữa bầu trời bao chòm mây lơ lửng kiết tụ liên vầng, đó là luật tự nhiên khi lu khi mờ, khi tụ khi tan, khi mờ ám, cơn xuất hiện, khi biến đổi, lúc bình minh thanh bạch. Thử hỏi cảnh không không như thế cần lưu ý tri tầm nguyên lý. Đó là ngu ý của ta hầu đạt được sự sống trong cảnh hiện tại. Luật tuần-huờn đã ghi: cuối Hạ-Nguơn chuyển sang đời Thượng-Nguơn xây nền Thánh-Đức; để tạo gầy cơ cấu cho chư môn đồ với một dung nhan đầy quyến rủ. Dung nhan đó là khoác cân-y màu thanh bạch để tượng trưng cho đóa phẩm từ Cực-Lạc hạ xuống trần.

      Vậy chư môn đồ nên hồi tưởng lại lúc ở non Bồng Tiên cảnh.

      Nay Tôn-Sư thọ lịnh DIÊU-TRÌ lưu lại quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM để hướng dẫn chư môn đồ diệt trừ bản ngã tư riêng để phản hồi nơi cựu vị.

Bài:

       Đào là giống hoa hiền rực-rỡ,

       Nơi thế phù nhụy nở kết tinh,

              Hoa kia khoe sắc vươn mình,

Khi tàn lưu lại, kết tinh những gì?

       Nên nhớ lấy thời kỳ phản bổn,

       Nhắc môn đồ nơi chốn non Tiên,

              Đài-Cao xuất hiện trần miền,

Như hoa kết quả hồi Tiên Diêu-Đài.

       Nên ngăn ngừa Nộ lai xuất hiện,

       Nộ ấy là cung tiễn vô danh,

              Nộ vốn nghịch ý phát sanh,

Nộ phân thủ túc tan tành khó an.

       Nộ là giận, dẫy tràn mất cả,

       Nộ khởi mầm giục-giã tung lên,

              Nộ thủy bình, sóng chao lên,

Nộ là dao động gập-ghềnh tâm trung.

       Nộ khi giận vô cùng nguy hiểm,

       Nộ sát sanh diễn tiến khắp nơi,

              Nộ khi phát dậy tâm thời,

Nộ xung khí huyết, đổi dời khó ngăn.

       Nộ khó giữ thăng bằng định số,

       Nộ bột bồng thấy lộ bụi nhơ,

              Nộ khi phát dậy trong giờ,

Nộ là căn-bản ban sơ như hà.

       Nộ đoạn tuyệt người ta vẫn một,

       Nộ chia phân then chốt nào hay,

              Nộ sanh đố kỵ nhau hoài,

Nộ là một vật tương lai sát mình.

       Chờ phẫn nộ gây tình oan-nghiệt,

       Phẫn nộ là đoạn tuyệt chân tay,

              Cùng nhau sanh trưởng trần ai,

Một lò sản xuất, muôn loài vẫn y.

       Nên luyện tập diệt thì phẫn-nộ,

       Nộ sát nhau về chỗ thanh cao,

              Nộ sanh sát chí kiệt hào,

Nộ là tiêu diệt Ai Đào nghĩa nhân.

       Nộ ẩn hiện châu thân ngự trị,

       Chênh lệch lòng tà ý phát sinh,

              Nộ đang lặn hụp trong mình,

Nộ chờ hoạt động xuất hình mặt ta.

       Lưu bút ngọc kỳ ba điểm đạo,

       Thâu môn đồ truyền giáo-huấn đây,

              Luyện thần định mạng đủ đầy,

Giữ-gìn thiện lạc thoát dây trần hồng.

       Sống nhơn-đạo ân cần ghi nhận,

       Tương-trợ nhau trực-tấn Thiên-Đàng,

              Đó là Tiên-Đạo nấc thang,

Chẳng hành nhơn-đạo, Thiên-Đàng lánh xa.

       Giờ lưu bút phân qua phẫn-nộ,

       Cho môn đồ tìm chỗ diệt trừ,

              Sống trần đâu hưởng thu dư,

Mờ lu linh điểm Mẫu-Từ đợi trông.

       Nên học tập cõi lòng khắc cốt,

       Diệt thất-tình rường cột tu thân,

              Trái oan trả hết nơi trần,

Phản hồi Diêu-Điện, tường vân bao mình.

      Giờ lành Tôn-Sư thọ lịnh Diêu-Trì phân qua PHẪN NỘ cho chư môn đồ hiểu lý hầu tiến bước trên con đường tu nhơn-đạo.

      Giờ đã mãn, Tôn-Sư ban ân lành chư môn đồ, Tôn-Sư điển hồi Tiên động. Thăng

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 12-05 nhuần Tân-Hợi (4-7-1971)

Pháp Đàn: Huỳnh-Mai-Nương * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

Thi:

HẢI môn sóng dậy bủa ba đào,

TRIỀU thủy nhập nhồi lượn thấp cao,

THÁNH triết tạo gầy ân đức hưởng,

NHƠN hiền xây dựng bút đề trao.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư môn đồ, tu chỉnh đàn tiền tiếp lịnh, Tôn-Sư báo tin đến giờ, khá cung nghinh tiếp ứng.

      Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

Thi:

LINH cảm lòng phàm vận điển quang,

SƠN kỳ phụng múa chuyển lai đàn,

THÁNH tâm đạt đạo gầy Minh-Đức,

MẪU thọ Tôn-Sư hạ giáo tràng.

      LINH-SƠN THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ an tọa.

      Giờ thọ lịnh Diêu-Cung tả đề một đoạn lưu vào Bình Minh tam quyển.

      Này chư môn đồ, sự tác động của lằn không khí hằng ngày để cung cấp cho vạn vật sống chung trong bầu vô tư vận chuyển. Sự thay đổi thời tiết, đó là do Thiên-lý vận hành tuần tự, có khác nhau tùy theo phương hướng. Mỗi mỗi đều di dịch bởi không khí vận hành vô trụ. Đó là cơ huyền bí sinh hoạt thường xuyên, chư môn đồ nào để ý.         Nay Tôn-Sư phớt qua cho chư môn đồ hồi tưởng nơi nội tâm suy luận hay quyết đoán thử xem sự kiện của máy tuần-huờn, phải là có bàn tay vô hình điều khiển? Đó là vượt ngoài phạm vi tầm mức của chư môn đồ mà thế nhân thường luận. Nhưng chư môn đồ nên khác hơn, là chính thân Thượng-Đế. Phần bồi dưỡng xác thịt, Trưng-Nữ hướng đạo đường lối tại trần. Phần bồi dưỡng linh hồn, Tôn Sư đã bảo tồn tiếp thu đồ đệ.

      Vậy giờ nay, Tôn-Sư nhắc lại để chư môn đồ vượt qua giai đoạn. Giờ Tôn-Sư diễn dụ ghi vào bút tích.

Bài:

       Bầu tạo-hóa thinh thinh cao rộng,

       Mặt đất dày đặc lỏng chia ra,

              Khắp trong vũ-trụ đó là,

Sống theo luật định bao la tuần huờn.

       Điển Tiên-Thiên LINH-SƠN đề bút,

       Sẵn tam tài dưỡng dục tâm điền,

              Vận hành tạo-hóa nhẫn kiên,

Công tròn sắc thái trần miền đồng chung.

       Lập Đại-Đạo tựu trung luyện tánh,

       Khai Tam-Kỳ dựng cảnh Đại-Đồng,

              Giữ gìn mấy điểm nơi trong,

Trung-dung chánh pháp, non Bồng bước lên.

       Ái nhơn vật, xây nền Thánh-Đức,

       Ái chúng sanh Tây-Vức hồi môn,

              Ái điều thiện lạc trường tồn,

Ái tha đồng loại Thiên-môn thẳng vào.

       Ái bản thể cần trau tâm thiện,

       Ái tông đường thực hiện vô tư,

              Ái là luật định Mẫu-Từ,

Ái đồng vạn vật vô tư phú bần.

       Ái, tình ái cõi trần vay trả,

       Ái, nghĩa nhân áo bả phủ thân,

              Ái không kẻ phú người bần,

Ái không màu sắc biệt phân linh hồn.

       Ái như thể Từ-Tôn ái thế,

       Ái vinh hoa đâu để triền miên,

              Ái là yêu, diệt tâm phiền,

Ái phân tách sự nhãn tiền hậu lai.

       Ái thể xác miệt-mài thinh sắc,

       Ái phù hoa, vùi lấp ái tàn,

              Ái danh, ái lợi, tiêu tan,

Ái cần tiêu diệt, Thiên-Đàng hồi qui.

       Ái tha nhân, đồng qui ái tử,

       Ái tông đường cư xử trả vay,

              Ái đừng chật hẹp lòng này,

Ái coi nghĩa trọng, khinh tài thế gian.

       Luật tam-thừa đà ban dưới thế,

       Thực hành đây chọn để tùy thân,

              Miễn sao đặng khỏi phong trần,

Chuyển sang thế giới Tân-Dân Thượng đời.

       Hỡi môn đồ chớ vơi đạo mạch,

       Sắc DIÊU-TRÌ trọng trách còn ghi,

              Hiến thân hạ thế Tam-Kỳ,

Lãnh phần sứ mạng hồi qui Diêu-Đài.

       Phần Nữ-Đạo nữ tài khắc cốt,

       Nơi gia môn rường cột tiếp theo,

              Quá giang thẳng lối một lèo,

Thuận buồm xuôi gió qua đèo sông mê.

       Gánh Nữ-Đạo gia tề trọn gánh,

       Dù phú bần trong cảnh thưởng răn,

              Sống trần ràng buộc trói-trăn,

Chớ nên luyến ái trịu trằn khó đi.

       Diệt thất-tình hồi qui trung đạo,

       Phần dục tâm cải tạo thanh cao,

              Diêu-Cung mở cửa bước vào,

Phục hồi sứ-mạng Mẹ trao tại trần.

      Vậy môn đồ cần đánh thức tâm hồn, hầu làm gương cho Nữ-Đạo, vì Nữ-Đạo là hiện thân của Đức MẪU-HOÀNG. Chư môn đồ nên lưu tâm để tránh điều phiền muộn.

      Chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh. Tôn-Sư điển hồi Tiên động. Thăng...
 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 12-05 nhuần Tân-Hợi (4-7-1971)

Pháp Đàn: Huỳnh-Mai-Nương * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

(Tiếp điển:)

Thi:

BẠCH sắc kỳ tam chuyển khắp trời,

QUANG minh chánh pháp vượt dòng khơi,

THÁNH tâm thiện niệm vui Bồng-Đảo,

MẪU triệu Bình-Minh hạ bút thời.

      BẠCH-QUANG THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ an tọa.

      Giờ thọ lịnh tả Kinh lưu đề một đoạn. Nầy chư môn đồ! nhìn lên bầu trời lúc đêm trường vằng-vặc, biết bao tinh tú xẹt tia để tạo cho môn đồ một ảo tưởng. Ảo tưởng đó là chư môn đồ thọ lãnh một điểm linh quang từ trên cõi toàn dương sa xuống. Sự phóng khứ điển quang của cơ huyền bí chỉ chớp nhoáng như đến rồi đi. Đó là một trong những cơ nhiệm mầu tạo hóa mà chư môn đồ rất là quen thuộc. Từ vạn vật đến nhơn phẩm đều chung chạ nhau một luồng quang tuyến của bầu trời phát xuất, không phân biệt. Đối với phần nhục nhãn của chư môn đồ, bởi cơ thể thiếu tinh vi, nên không phân tách được kỳ-quan của Đạo. Sự vận dụng thường xuyên của luật công bằng do Tạo-Công đã chấm mức.

      Kỳ Hạ-Nguơn khai nền Đại-Đạo tại trần mà Nam-bang là nơi tiên thụ. Một lằn điển quang đang sáng chói chiếu vào bản thân chư môn đồ ngày thêm tăng nhiệt độ. Đó là điều làm cho chư môn đồ để tẩy sạch những tế vi bám vào ngoại thân hoặc nơi tâm hồn đã bị loại vi trùng nầy chi phối, hoặc đã luồn vào dòng huyết quản sai khiến hầu sử dụng cấp thời, lôi cuốn vô tư về nơi tư kỷ. Đó là một ánh sáng thủng vào nội địa để tìm và tiêu diệt những loại vi trùng đang hoạt động. Chư môn đồ cần hiểu để tránh điều phiền muộn.

Bài:

       Bầu trời rọi thanh tân tia sáng,

       Chiếu hào-quang nhân bản điểm linh,

              Tạo thành vật chất hữu hình,

Hoàng-hôn xuất hiện tú tinh khắp cùng.

       Nếp sống tạm vẫy-vùng mực sống,

       Máy tuần-huờn lồng-lộng lưới bao,

              Sơ nhi bất lậu ly hào,

Sinh sinh diệt diệt biết bao đo lường.

       BẠCH-QUANG chiếu muôn đường tá bút,

       Khuyên môn đồ tâm thức tri thiên,

              Thừa hành nhân đạo trần miền,

Đó là Thiên-Đạo cảnh Tiên phản hồi.

        nhân thể bại tồi tập quán,

        siểm gièm căn bản nào đâu,

               là tật xấu làm đầu,

 là nhiễm độc ấn sâu lòng tà.

        thắng kỷ lòng ta không tiến,

        dị đồng khó hiện cao nhơn,

               nhơn tắc hữu ố huờn,

 cần tiêu diệt Bồng-Sơn ngự về.

        bần tiện quên thề hạ thế,

        trầm luân bản thể luân trầm,

               đời bạc-đãi tủi thầm,

 đường tử đạo lũi-lầm đọa sa.

        khó tạo chữ hòa mục đích,

        linh hồn khắng khít rời ra,

               tạo lời lẽ điêu-ngoa,

 điều tà mị lánh xa nghiệp đời.

        cách biệt luật Trời chìm đắm,

        luân hồi vực thẳm đừng chen,

               điều tà mị siểm gièm,

 đừng xu phụ, ố đèn thích trăng.

        là ghét cản ngăn hòa hợp,

       Nên ngăn ngừa cải lớp vi nhơn,

              Thấy xem vạn vật lai huờn,

Chuyển luân nhựt dạ hà-nhơn nhơn-hà.

       Diệt thất-tình chói lòa ánh sáng,

       Nẻo trung-dung căn bản môn đồ,

              Tiếp thu điển báu bồi tô,

Chỉnh tâm hành thiện qui mô đạo người.

       Hành nhơn đạo là khươi linh điểm,

       Chiếu lòng phàm nguy hiểm vượt qua,

              Non Bồng nhẹ bước ta-bà,

Giấc nồng định lại, Bửu-Tòa ngự an.

       Tranh vân cẩu không gian kiết tụ,

       Bức họa đồ vũ-trụ bao la,

              Môn đồ học tập đạo nhà,

Chủ trương nhân ái vị-tha tại trần.

       Nuôi ảnh hưởng tinh thần Đại-Đạo,

       Dưỡng thiện-từ hoài bảo nữ lưu,

              Môn đồ ý chí tầm sưu,

Đồng chung sứ mạng tương ưu thế thời.

       Gìn gang tấc tâm ngời ánh sáng,

       Diệt thất-tình, căn bản tu thân,

              ẩn mình bao phủ tường vân,

Ân đền nợ trả cõi trần khỏi vương.

Thăng...

 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 12-05 nhuần Tân-Hợi (4-7-1971)

Pháp Đàn: Huỳnh-Mai-Nương * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

(Tiếp điển:)

Thi:

HUYỀN quang nhứt khiếu phá Nê-Huờn,

LINH diệu chơn-truyền, châu thủy sơn,

THÁNH bút Bình-Minh gây ấn tượng,

MẪU truyền sắc chỉ chuyển cơ đờn.

      HUYỀN-LINH THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ an tọa.

      Giờ thọ lịnh Kim-bài hạ trần chuyển bút lưu vào bửu tự quyển đệ tam.

      Nầy chư môn đồ, cảnh vô hình đã bày khai trước mặt, đó là một bầu vũ-trụ trống không, khi bình thản, lúc vận hành, khi nhẹ nhàng êm dịu, phút chốc nổi ầm-ì tiếng chấn động lôi thinh từ đâu phát xuất; kế bao lằn điển phụ họa chớp giăng, lão Xuy-phong từ tây-phang cuộn đến. Đó là một cảnh tang thương sắp xuất hiện trên vùng sơn địa mà chư môn đồ đã bao lần dò bước. Sự chấn động này do đâu tạo gây sự vật? Như thế, chư môn đồ nhìn vào bầu trời trống không lỏng-lẻo, nhưng khi cảnh rùng-rợn xuất hình thì chư môn đồ phải nhận rằng cảnh vô hình ấy là một hữu thể mà không sao thấy đặng vì chư môn đồ với tầm mắt nhục nhãn không thể nhìn vào màn bí mật. Muốn vượt tầm mắt, phóng điển quang mỗi lúc bình thường, đó là cơn mộng, chư môn đồ nên tiêu diệt thất-tình hầu khai thông thần nhãn vì thất-tình là bức màn vô ảnh che mất sự vật vô minh.

Bài:

       Sự chấn động bao đường không khí,

       Luật tuần-huờn hữu thỉ hữu chung,

              Chuyển luân qua lại vô cùng,

Vận hành nhựt nguyệt không trung điều hòa.

       Sự ẩn hiện dương hòa âm chưởng,

       Máy càn-khôn trưởng dưỡng không hình,

              Luật Trời vận máy huyền linh,

Lưu hành thế giới tiền trình vãng lai.

       Nuôi vạn-vật vận hoài không khí,

       Cung cấp từ nguyên thủy đến nay,

              Chơn thân như thể huờn lai,

Tựu thành ngũ-tạng bày khai thất-tình.

       Ai nhơn phẩm đồng tình Tạo-Hóa,

       Ai vạn-vật khắp cả vô tri,

              Ai là thương xót người suy,

Ai đồng nhứt thể phục qui Diêu-Đài.

       Ai tiếc thương muôn loài sanh vật,

       Ai hoài nhau chớ thất-tình ni,

              Ai thời cải cố ai thì,

Ai vô tật đố, phục qui tâm điền.

       Ai gìn giữ nằm yên tấc dạ,

       Ai thế trần như cả tử tôn,

              Ai là tánh ý Từ-Tôn,

Ai hoài vạn-vật linh hồn chia ra.

       Ai thương xót dung hòa một ý,

       Ai tình đời chung thỉ đừng sai,

              Ai nhìn thấy rộng một loài,

Ai là thương xót trong ngoài khuôn viên.

       Ai chẳng nghĩ đảo điên nghiệp thiện,

       Ai không nhìn khó hiện điển lành,

              Ai là một đấng hóa-sanh,

Ai không háo sát, ai đành chia phôi.

       Chuyển bút ngọc trong hồi rọi điển,

       Tả BÌNH-MINH tam quyển lưu đề,

              Thất-tình ngăn chận chớ xê,

Lấp che cửu khiếu khó về Diêu-Cung.

       Chư môn đồ tương phùng dương cách,

       Tả BÌNH-MINH phân tách tại trần,

              Tu là trau luyện bản thân,

Thoát ra vi phạm não cân thanh nhàn.

       Nợ trái-oan buộc ràng trần thế,

       Trả tiền-khiên trước để giờ đây,

              Môn đồ cố gắng điều nầy,

Ân đền nợ trả, đắp xây non Bồng.

       Nợ trần thế gánh gồng cam chịu,

       Dù trái ngang nên hiểu trả xong,

              Hỡi môn đồ khá lãm-thông,

Tuần-huờn chuyển kiếp vào vòng đọa sa.

       Nếu chẳng dứt nợ mà trần tục,

       Thì uổng công dưỡng-dục kiếp ni,

              Gắng toan cổi tháo hồi qui,

Làm tròn sứ mạng phục qui Diêu-Đài.

       Giờ nhặt thúc trần ai lưu lại,

       Ghi BÌNH-MINH cần phải thừa hành,

              Tên đề sử đạo bảng danh,

Muôn thu còn tạc bảng danh tại trần.

            Giờ lành Tôn-Sư nhắc đôi điều, chư môn đồ cần lưu ý. Ban ân chung, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 11-6 Tân-Hợi (1-8-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

Thi:

HẢI cạn đời đi khéo sụp lầy,

TRIỀU môn điện ngọc thọ ân Thầy,

THÁNH tâm tự tỉnh thân nhàn-nhã,

NHƠN phẩm tùy tu đạt gió mây.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư môn đồ, tu chỉnh đàn tiền tiếp lịnh. Tôn-Sư báo tin. Thăng...

(Tiếp điển:)

Thi:

 bồng tịnh tọa đạt huyền linh,

SƠN thủy vân du rọi điển linh,

THÁNH Phật hội đồng lai hạ thế,

MẪU truyền chuyển bút tả Bình-Minh.

      LƯ-SƠN THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chư môn đồ an tọa. Giờ chiếu điển trần gian thọ lịnh DIÊU-TRÌ tả Bửu Kinh để lưu truyền thất ức.

      Nầy chư môn đồ, sự xuất hiện của chư môn đồ và được trưởng thành nơi cõi trần nầy là duyên cơ chư môn đồ trước kia thọ lịnh trước DIÊU-TRÌ kỳ ba hạ thế tiếp độ toàn linh phục hồi phẩm vị. Sự sa đọa giữa cõi thế phù chôn thân biết bao bậc chí-đức chí-thiện đành gieo mình vào nơi vực thẳm, vì khi xuất hiện nơi cõi trần gian nhằm vào đài-các, bởi tập tục áng che đành quên hẳn những điều thề nguyện để rồi chư môn đồ phải tái bao kiếp để trả nợ oan-khiên. Thử hỏi cuộc bể dâu tan hiệp nơi cõi trần là giả tạm, mà chính bản thân của chư môn đồ cũng là không thiệt, ngày tàn tạ hầu kề. Mọi sự vận dụng của chư môn đồ không ngoài phạm vi kiếp số, dầu có cượng-cầu cũng không thoát khỏi tử thần khi chiếc thân nầy cằn-cỗi.

      Vậy khi bản thân còn lành mạnh, chư môn đồ cần tiến mạnh vào con đường siêu thoát, sự siêu thoát là cơ huyền bí.

      Vậy chư môn đồ nên nhận đây là lằn điển vô hình của Tôn-Sư rọi xuống đầy mãnh lực để quật đổ những gì bền vững, bảo vệ môn đồ được phi thường như vật ấy. Chư môn đồ nên dụng đức tính để thành công vì đức tính sẽ đưa môn đồ nương theo lằn điển báu của Tôn-Sư phục hồi Diêu-Động.

Bài:

       Giờ chiếu điển thần thông cử bút,

       Dụng huyền linh trong lúc đời tàn,

              Thọ truyền chuyển ngọn bút vàng,

Lư-Sơn hạ thế điển ban môn đồ.

       Kiếp phàm tục khá tô Đạo thể,

       Nên ngăn ngừa tại thế thất-tình,

              Dắt vào nơi chốn u-minh,

Lấp đường sanh lộ, ngục hình viếng thăm.

       Ngọc bất trác khó tầm vết ố,

       Vàng không trau, lắm chỗ sét ten,

              Kim cương chiếu ánh hơn đèn,

Sao bằng ngự trị đài sen muôn đời.

       Kìa bốn mặt bể vơi không vực,

       Sóng bủa tràn đánh thức lòng mê,

              Quẩn quanh kiếp tạm chẳng về,

Điểm linh sa-đọa tái-tê tâm hồn.

       Cụ bảo vệ cho tồn linh điển,

       Cụ ngăn ngừa xuất hiện tâm trung,

              Cụ là sợ Đấng Huyền-Khung,

Cụ nên tránh lúc bão-bùng đua chen.

       Cụ ác sự chốt then hành đạo,

       Cụ tinh thần hoài bão ai bi,

              Cụ cần un-đúc tâm thì,

Cụ là nền tảng những gì trả vay.

       Cụ pháp luật hằng ngày an-lạc,

       Cụ phong ba bão táp tình đời,

              Cụ cần gìn-giữ chớ lơi,

Cụ đường vật dục, Đạo Trời chuyển luân.

       Cụ là sợ chớ dừng bước Đạo,

       Cụ tâm tà khảo đảo đời tu,

              Cụ lo trọn kiếp công phu,

Cụ đường vật chất vân du đặng nào.

       Cụ Thiên-mạng ĐÀI-CAO dựng bảng,

       Cụ Thánh Thần chiếu sáng tâm linh,

              Cụ đại nhơn chuyển Đạo Huỳnh,

Cụ đường sa đọa giữ gìn điển quang.

       Cụ thất-tình, lo toan gỡ tháo,

       Cụ lục-dục đào tạo căn nguyên,

              Cụ cần ngăn chận kim tiền,

Cụ cần ý thức bảng Tiên non Bồng.

       Tả BÌNH-MINH khai thông trí tuệ,

       Diệt thất-tình tại thế thân tâm,

              Cuộc đời thử hỏi bao năm?

Bản thân quí giá luân trầm uổng thay!

       Hỡi môn đồ mau quày lẹ bước,

       Học BÌNH-MINH, diệu-dược trường sanh,

              Đời tàn khử trược lọc thanh,

Thiên-thu bất hoại luyện thành Đạo Tiên.

       Dây oan-nghiệt trần miền đoạn tuyệt,

       Chớ khinh thường, nó siết bản thân,

              Linh hồn cùng cả chơn thân,

Đều là tiêu diệt nơi trần khó đi.

       Lúc tăm tối đuốc thì tỏ rạng,

       Đuốc CAO-ĐÀI soi sáng trần gian,

              Môn đồ Nữ-Đạo khá toan,

Lên thuyền vượt bến, trần gian vượt vòng.

 

            Tôn-Sư tả đề một đoạn, chư môn đồ nên lưu tâm cần diệt hết thất-tình. Tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh...
 Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 11-6 Tân-Hợi (1-8-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

(Tiếp điển:)

Thi:

THƯỜNG trụ tâm phàm đạo chuyển mê,

 trần bất nhiễm bút lai đề,

NAM bang hạnh ngộ Bình-Minh xuất,

HẢI thọ Diêu-Trì chuyển sắc phê.

      THƯỜNG-CƯ NAM-HẢI — Bần-Nữ mừng chư đẳng chúng sanh. Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ an tọa.

      Hỡi nầy chư đẳng chúng sanh, sự khốc liệt trong kỳ Hạ Nguơn diễn bày tại thế, đó là luật tuần-huờn đã định. Chư đẳng chúng sanh, sanh trưởng hiện thân phàm tục nơi cõi nầy phải chịu lắm điều phiền muộn, đớn đau, ngang trái, ngày càng tiến đến chỗ diệt vong, bởi sự tiến hóa của chúng sanh ngoài phạm vi đạo-đức, lòng nhơn-đạo đã mỏi mòn vì bị làn sóng đời văn minh lấp mất. Nền căn bản đạo lý chỉ còn là một lằn quang tuyến mờ lu với hiện thân vật chất để phục sinh lòng đạo đức, bởi càn khôn chấn động, thủy kiệt sơn băng, phong vân mạt trắc làm cho lòng người hồi-hộp. Sự sinh diệt phi thường, đó là một trở lực vô hình, để ngăn sự lũi-lầm của trần gian mãi theo đường vật dục. Muốn thay vào nền Thánh-Đức, nên thay nền Đại-Đạo mục đích chỉnh lại phong hóa cương thường, đem đạo lý tô vào tâm tục, lấy chơn thành ấn nhận tâm-tư, dụng muối dưa sưởi mát lòng phàm, dụng áo bả nâu-sồng để chùi gươm trí-tuệ. Đó là những mục tiêu để xoa tan dịu lòng đau khổ của chúng sanh khi thất chí, lúc buồn lòng có chỗ nương tựa để dập tắt lòng cô đơn của tình đời và tiêu diệt lần oan nghiệt.

      Thương thay! Lôi-Âm-Tự phá cổ, Ngọc-Hư-Cung bát luật, chọn lọc đời tu nơi thế sự lọng dù, đều lồng vào môi trường đạo-đức, xây am-tự trong lúc đời cùng thế tận nghiệp chướng phát sinh, nơi cổ-tự đổi thay qua bao trường tranh đấu, chốn Phật-đài thay đổi luật nhà tu. Đời tận, bao lớp cõi thế phù, dụng cửu khiếu đánh tan lòng ám muội; xây am-tự, tô tập tục, cởi mở lòng phàm, xây dựng lại đời Thánh-Đức kỳ-ba khai đại-xá, xây đạo-lý diệt trừ lục-dục cho nhơn sanh phục hồi phẩm vị.

      Vậy giờ đây, chư chúng sanh cần ghi nhớ.

Bài:

       Thân tứ đại vun trồng cội phúc,

       Lấy tinh thần gạn đục lóng trong,

              Kìa xem lưu thủy một dòng,

Độn đào doi-vịnh tuôn dòng đại dương.

       Luật biến động trần miền tiêu trưởng,

       Máy càn-khôn hạ thượng phân minh,

              Bảo tồn thế giới hữu hình,

Vận hành động tịnh u-minh xác phàm.

       Vườn cô-độc, Già-Lam xuất hiện,

       Ngọc pha-ly vận chuyển giới-ba,

              Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa,

Ấn vào trí-tuệ Diêu-Tòa dời chơn.

       Vì môn đệ, dụng đờn tạo-hóa,

       Máy huyền-vi giáo cả vạn linh,

              Nội thân ngăn lấp thất-tình,

Áng che quang-điển khó sinh ánh hào.

       Dục xuất hiện bao nhà đen đỏ,

       Dục tâm tà lấp ngõ Bồng-Lai,

              Dục là mối hại tâm nầy,

Dục đường thiện-lạc Như-Lai điều hòa.

       Dục tư-tưởng phát ra ý thiện,

       Dục từ-bi vận chuyển tâm điền,

              Dục về đất Phật, bạn Tiên,

Dục tâm từ-ái, dục miền phàm phu.

       Dục lòng tà muốn mù mắt tục,

       Dục lợi danh hạnh phúc không bền,

              Dục đành sát hại tuổi tên,

Dục đường ám muội, móng nền tiêu tan.

       Dục chí-sĩ đầy màn danh lợi,

       Dục nữ-lưu thẳng tới Diêu-Đài,

              Dục cần ngăn chận sắc tài,

Dục đường vật chất khó quày dấu chơn.

       Dục đưa đến Bồng-Sơn tâm thiện,

       Dục Như-Lai vận chuyển tâm linh,

              Dục cần khử ám hồi minh,

Dục lòng thanh lọc, đời tình vượt qua.

       Dục sắc dục, đọa sa linh tánh,

       Dục lợi quyền, lâm cảnh trần ô,

              Dục lòng khí huyết hấp hô,

Dục tâm tủi nhục hà mô đạt thành.

       Cần trau luyện lưu danh ĐẠI-ĐẠO,

       Lấy tinh thần cải tạo suy tầm,

              Phật, Tiên, Thần, Thánh do tâm,

Hay là ngạ-quỉ, bởi tâm xuất hình.

       Lo gìn giữ tâm linh điển tụ,

       Khai thông đường vũ-trụ là tâm,

              Con đường thẳng đến luân trầm,

Cũng là tại thử, bởi tâm xuất hành.

       Đời cuối tận xây thành ĐẠI-ĐẠO,

       Lo tầm phương đào tạo con tâm,

              Bồ-đoàn luyện tánh cao thâm,

Nê-hà vượt mức khỏi lâm khổ sầu.

       Sóng trùng dương bể dâu tan-tác,

       Gió lợi quyền rào-rạc thân ma,

              Nhành dương tẩm nước Ma-Ha,

Lên thuyền qua bảng vượt mà Bồng-Lai.

            Vậy Bần-Nữ ban ân chung phận sự. Điển hồi. Thăng...

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 28-07 Tân-Hợi (17-09-1971)

Pháp Đàn: Huỳnh-Mai-Nương * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

__________

Thi:

Thủy lãng thượng nhơn mẫu kế hành,

Thập đầu viết thập nguyệt tùng sanh,

Nhĩ vương tọa vị tương kiên khấu,

Dương chiếu âm hòa đạo-pháp thành.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư Thiên-mạng, mừng chung chư môn đồ. Tôn-Sư đắc lịnh báo đàn.

      Vậy chư môn đồ tam ban nghiêm chỉnh tiếp lịnh, Tôn Sư xuất ngoại. Thăng...

(Tiếp điễn:)

Thi:

NGUYỆT khuất âm đài bóng chẳng mờ,

ĐỨC hòa nhơn vật đạt thời cơ,

KIM triêu hội ngộ truyền linh điễn,

TIÊN vị Bồng-Lai sẵn đón chờ.

Thọ chiếu tả đề lưu bửu tự,

Sắc phê giáng bút luật Thiên-thơ,

Diêu-Cung kết luận Bình-Minh quyện,

Trì chí nguyên-căn dựng thế cờ.

      NGUYỆT-ĐỨC (1) — Huỳnh-Đức — mừng chung Thiên mạng đàn tiền. Anh thọ sắc tả đề Kinh báu, vậy các em an tọa.

      Kiếp sống tạm của con người đồng chung một kiếp sống, nhưng khác nhau về phần tư-tưởng hay lương-tri là tùy sự tiến hóa của con người khi lãnh một vai tuồng hạ thế. Vậy là người phải làm sao để tỏ ra là người hiểu am thời sự. Khi nhận thức mình đã hiến thân hành Đạo, cần phải tùy phương-tiện tiến hành lợi-ích cho nhơn quần xã hội. Kìa sử đời cũng như Đạo đã ghi chép những gì của ta trong cơn sống còn, sự bồi dưỡng tinh thần do luồng không khí hoạt động, còn nhục thể nhờ sự cung cấp của ngọn rau ngũ cốc, do tấc đất dưỡng thành hằng ngày cung ứng, hoạt động, do sự di chuyển tinh thần. Sự di chuyển đó là một bằng chứng giúp ta thi hành những điều chỉ phán nơi lòng ta gợi đến.

      Vậy khi bản năng nhận thấy những gì thích hợp với lẽ tuần-huờn, nên nhận vào để thi hành, dù gặp bao cảnh tạo phũ-phàng, lòng vẫn cương quyết không sờn nao trước trở lực đê hèn, miễn lòng ta được yên vui, đó là điều kết quả đem đến cho ta ngày phục hồi cựu cảnh.

Bài:

Vận Động Đình

Sống đầy giả tạm cõi vân phù,

Thác hưởng thanh-nhàn bởi kiếp tu,

Sớm chẳng lo lường cơn nắng hạ,

Chiều toan hấp hối lúc mưa thu.

       Lúc mưa thu mịt-mù thành lũy,

       Gió thổi vào không khí phá tan,

              Bầu trời xanh đậm lẫn vàng,

Mây đùa gió cợt bóng hoàng khuất ô.

                     Cảnh Hớn Hồ,

                            Thân thế cô,

                                   Cần điểm tô.

              Điểm tô khí dũng Đạo nhà,

Bước lên Bồng-đảo vượt qua thế trần.

Thế trần nghiệp quả mãi đeo đai,

Quyết chí hy sinh gỡ nợ nầy,

Trăm tuổi nào ai vui thú trọn,

Hay là chôn chặt điểm linh nầy.

       Điểm linh nầy đổi thay màu sắc,

       Vợn ngân-hà từ Bắc đến Nam,

              Đông qua giá buốt làn làn,

Xuân phân sắc thái lên đàng Tân-Dân.

                     Ngọn bút thần,

                            Ghi Thánh-Đức,

                                   Để lời phân.

              Lời phân hư thiệt rán gìn,

Con đường giải thoát mộng huỳnh là đây.

Là đây tu tạo phục huờn nguyên,

Rửa sạch trần ai đạt Thánh Hiền,

Một phút lệch chênh tâm phát động,

Đôi điều oan nghiệt bởi tiền-khiên.

       Bởi tiền khiên khó yên trần tục,

       Xây đại-đồng trong lúc gió giông,

              Tinh-thần vật-chất hiệp đồng,

Mảnh hồn đổ nát khó mong nhơn hòa.

                     Xây kỳ ba,

                            Dựng ái-tha,

                                   Dụng chữ HÒA.

              Chữ HÒA đem lại tình thương,

Xây nền cẩm tú phú cường nơi nơi.

Nơi nơi đồng hưởng luật công-bình,

Chốn chốn chung hòa một nghĩa sinh,

Muôn ý đắp xây dân đức lũy,

Ngàn lòng xây dựng thể tài sinh.

       Thể tài sinh Đạo Huỳnh khai hoát,

       Đấng công-bằng thưởng phạt phân minh,

              Siêu thăng thượng, đọa ngục hình,

Do trần cấu tạo tội tình trái-oan.

                     Hãy vội vàng,

                            Lo tiến bước,

                                   Khỏi lầm than.

              Lầm than thế sự nặng trằn,

Ai đem gỡ nợ, ai hằng dứt khuyên.

Dứt khuyên thoát khỏi chốn phù đồ,

Đêm tối không đèn chịu thế cô,

Lăn lộn mãi quây-quần vực thẳm,

Lũi-lầm khó vượt kiếp nông-nô.

       Kiếp nông-nô thế cô chờ đợi,

       Biết ngày nào thẳng tới Bồng-Lai?

              Sanh hữu hạn, tử không ngày,

Học đòi minh-triết đức tài thi công.

                     Chim xổ lồng,

                            Cá vượt dòng,

                                   Vượt biển đông.

              Biển đông lặn hụp tung hoành,

Nhờ tu mới đặng đạt thành công cao.

Công cao trải mật chí hùng anh,

Khai thác tâm linh đạo-đức hành,

Nguồn gốc tạo xây căn quả thiện,

Ngọn ngành sung-túc đạt công thành.

       Đạt công thành lưu danh thế hệ,

       Học chánh truyền hầu để lập đời,

              Đại-đồng mở hội khắp nơi,

Chống thuyền Đại-Đạo vượt khơi dự vào.

                     Sóng bủa nhào,

                            Bởi phong trào,

                                   Giấc chiêm bao.

              Chiêm bao một giấc huỳnh-kê.

Con đường bằng phẳng, gồ-ghề sửa sang.

Sửa sang nhơn-đạo tiếp cho tròn,

Tu lập công trình đạt bảng son,

Điễn báu Kim-Tiên lưu bút tích,

BÌNH-MINH tam quyện ấn ghi còn.

       Ấn ghi còn bút son tại thế,

       Cảnh trần nầy nào kể ra chi!

              Linh-hồn nhẹ khởi vân phi,

Công trần tu tạo, hồi qui non Bồng.

                     Phải dày công,

                            Đạo vun trồng,

                                   Chí bá tòng.

              Bá tòng nắng phủ mưa chan,

Bền lòng một thuở, hưởng an Tiên-tòa.

Tiên-tòa bền bỉ thú vui say,

Luyện thuốc trường-sanh hưởng tháng ngày,

Thế sự nào so cơn mộng-ảo,

Cảnh Tiên nhàn-nhã kíp chơn quày.

       Kíp chơn quày vui say lạc-cảnh,

       Lăn-lóc trần nên tránh nô-danh,

              Sớm khuya kinh luật học hành,

Đại-đồng mở hội đua tranh đức tài.

                     Đường tuy dài,

                            Cần lập lấy,

                                   ở tương lai.

              Tương lai cơ hội dẫy tràn,

Tiếng còi báo hiệu lên đàng Tân-Dân.

Tân-Dân gầy dựng quả ĐÀI-CAO,

Đầy đủ tinh-thần lịnh sắc trao,

Cổi bỏ xác phàm, qui Bắc-Đẩu,

Luyện nhồi khí phách, hội Nam-Tào.

       Hội Nam-Tào sắc trao luyện Đạo,

       Đời mạt kỳ đào tạo hiếu trung,

              Đạo là mục đích trung-dung,

Thuần-phong chỉnh lại, chí hùng nêu gương.

                     Sẵn lập trường,

                            Nền Tiên-Đạo,

                                   Chỉnh phong cương.

              Phong cương giải tỏa dòng sầu,

Thừa hành nhơn-đạo để thâu đoạn trường.

Đoạn trường giả tạm cõi trần mê,

Duỗi bước xa-xăm sớm trở về,

Lảo-đảo lộn quanh thêm nghịch cảnh,

Sẵn đường thiên-lộ phục hồi quê.

       Phục hồi quê bút đề phân cạn,

       Xác thân nầy bẫy cạm nào hay,

              Dù cho hưởng ngự các-đài,

Phướn Thần vụt phất qui lai được nào?

                     Cần bước mau,

                            Giong ruỗi kịp,

                                   Trễ chuyến tàu.

              Chuyến tàu Nam-Hải kề bên,

Say mê vùi lấp, tỉnh lên non Bồng.

Non Bồng vui hưởng cảnh Thần Tiên,

Rượu cúc trà ngâu chẳng não phiền,

Sớm hứng ra vào xem cảnh vật,

Chiều toan lui tới ngắm màu thiên.

       Ngắm màu thiên, ảo-huyền tâm tục,

       Gộp mây bay khác lúc phàm trần,

              Bốn mùa nào biết não cân,

Ca ngâm thi phú non Thần vân-du.

                     Cõi thế phù,

                            Kìa danh lợi,

                                   Lấp mờ lu.

              Mờ lu cho điểm linh-quang,

Như đèn tim lục, gió đàn khó soi.

Khó soi ánh sáng lúc đêm mờ,

Dấu bước gập-ghình phải đứng ngơ,

Xảy gặp cơn mưa như thác đổ,

Tinh-thần rối loạn thể vò tơ.

       Thể vò tơ đâu ngờ đến lúc,

       Đường chông gai hun-hút đêm mờ,

              Canh nồng tiếng mõ lơ-thơ,

Đi theo khắc nhịp đừng chờ sáng soi.

                     Bao tiếng còi,

                            Đà trổi giọng,

                                   Thức nhơn-loài.

              Nhơn-loài tạo-hóa đồng sanh,

Dinh hư tiêu trưởng đạt thành đạo-nhơn.

Đạo-nhơn hành thiện lúc đời nguy,

Khóa chặt vàng cân khó sánh bì,

Một kiếp tử sanh trong chớp mắt,

Sạch sành nghiệp thế phục hồi qui.

       Phục hồi qui trường thi Nữ-Đạo,

       Hội Ngọc-Kinh Nam đáo huờn nguyên,

              Tâm-hồn chủ sử mối giềng,

Xác hình giả tạm nào yên lòng phàm.

                     Kìa Nam-bang,

                            Sẵn con đàng,

                                   Tối vinh quang.

              Vinh quang dựng lại nghiệp đồ,

Con đường nhơn-đạo điểm tô hưởng nhàn.

Hưởng nhàn núi Ngự với sông Hương,

Lăng tẩm vòng quanh cảnh miếu đường,

Quả lập tạo gây bao thế hệ,

Trường tồn bất diệt nực mùi hương.

       Nực mùi hương biểu dương linh tánh,

       Diệt vọng tâm, bốn vách tường banh,

              Kiếp trần nào biết tử sanh,

Bình-Minh xuất hiện, điềm lành Đạo Cha.

                     Bể cạn qua,

                            Dựng ái tha,

                                   Lập Bửu-Tòa.

              Bửu-Tòa rực rỡ đơm hoa,

Dầu bao nhánh tược, một mà cội sanh.

      Kìa, kẻ trí đang tìm con đường giải-thoát, còn người mê vẫn đắm-đuối chốn nê-hà. Cho nên điều thất vọng của con người biết bao vị ảo ảnh, đó là một động tác của tinh-thần do dục tâm điều khiển. Thế nên ai là người đã vì Đạo, nên đưa mình trọn vẹn vào khuôn viên luật pháp để nêu gương cho đoàn hậu tấn hầu mai hậu khỏi bước chân vào con đường sa-đọa.

      Giờ tả đề đôi đoạn vào quyển Kinh BÌNH-MINH.

      Giờ đã mãn, Anh điển hồi Tiên-cảnh.

Thăng...


Ghi chú:

(1) Nguyệt-Đức Kim-Tiên = lúc sanh thời là Anh Lớn Cựu Quốc Trưởng Phan-Khắc-Sửu (Đạo danh của người là Huỳnh-Đức)

 

Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 29-08 Tân-Hợi (17-10-1971)

Pháp Đàn: Huỳnh-Mai-Nương * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa, Hoa-Thủy

____________

Thi:

HẢI thọ Diêu-Cung báo tả Kinh,

TRIỀU hoàng sứ mạng chuyển thanh bình,

THÁNH tâm trau luyện tùng Thiên-Lý,

NHƠN thể huờn lai, ám phục minh.

      HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN — Tôn-Sư mừng chư môn đồ an tọa nghe Tôn-Sư luận.

      Kỳ Hạ-Nguơn chuyển Thượng, Tôn-Sư thọ chiếu Mẫu Hoàng lập kỳ công quả cho chư môn đồ noi gương mà tu học hầu đạt phẩm vị ngôi xưa. Kìa nhưNguơn-Thỉ, Tôn Bá Linh cùng Tôn-Sư đều là bậc Đại-Tiên, nào đâu mê luyến hồng trần, nào đâu đắm mùi danh lợi, huyền pháp chỉ một phất tay đủ làm cho thiên khuynh địa chích, bao ngàn năm vân du nơi Tiên-cảnh. Chư môn đồ là bậc giác-linh hạ thế, bởi mùi danh lợi che lấp, lương tri bị mờ ám nên phải chịu trong cảnh mê đồ, nên Đức THƯỢNG-ĐẾ khai truyền nền ĐẠI-ĐẠO, chư Phật Tiên đều hạ trần dẫn dắt môn đồ trở về phẩm vị. Vậy nên Tôn-Sư thọ lịnh báo đàn, lãnh trách nhiệm triệu thỉnh chư Tiên ngự đàn đề bút cho chư môn đồ nhìn vào hầu tăng tiến tinh-thần đạo-pháp.

      Nay, quyển BÌNH-MINH sắp hoàn thành, Tôn-Sư kết luận đề tài lưu lại cho chư môn đồ noi gương mà tác động tinh-thần đạo-pháp, vì đạo-pháp bắt nguồn từ nhơn-đạo chuyển sang. Nhơn-đạo tức là hành thiện; hành thiện là nguồn gốc của cơ Tái-Tạo. Chư hiền đồ mãi vẫn tiến thân trên con đường trọng đại mà quên đi phần nào nhơn-đạo thì khác nào chư môn đồ dựng một tòa nhà trên bãi cát, sẽ sụp đổ nay mai. Vậy chư môn đồ nên đi từ bước đường, qua từng giai đoạn, để đến khi kết luận cuộc đời, có sẵn một phương-châm, một nền tảng vững chắc, khỏi phải suy sụp ở hậu lai.

      Nay Tôn-Sư lưu lại, chư môn đồ cần suy nghiệm.

Bài:

       Từ xuất thế càn-khôn hữu vị,

       Hiện xác thân nguyên lý điều hành,

              Non Bồng luyện thuốc trường sanh,

Vì đời tao loạn, quách-thành ngửa nghiêng.

       Ta xuống thế thâu truyền đồ đệ,

       Luyện phép Tiên hầu để giúp đời,

              Tử-Lăng thọ lãnh lịnh Trời,

Hạ trần phò chúa giúp thời Tần-bang.

       Thâu lục quốc sắc tràng NGỌC-ĐẾ,

       Dựng nghiệp nhà hậu thế lưu lai,

              Vương-Tiễn đồng thọ lịnh nầy,

Yên, Tề nạn khổ dân thay máu đào.

       Vì đồ đệ, sắc trao lịnh tiễn,

       Giúp Tần-bang thực hiện sắc Trời,

              Nào hay chống trả luật Trời,

Bá-Linh xuống thế sát thời Tần-binh.

       Vương-Tiễn bại vì tình đệ tử,

       Cùng Tử-Lăng khó giữ binh nhung,

              Trận tiền Tôn-Tẩn hành hung,

Tần binh rối loạn vô cùng thảm thương.

       Tần-Thủy-Hoàng vô phương tiến thủ,

       Cầu Tôn-Sư chỉ dụ giúp Tần,

              Tử-Lăng lãnh lịnh phi thân,

Tôn-Sư hạ thế phàm trần thuận Thiên.

       Cùng Bá-Linh trận tiền giao chiến,

       Thiết trận đồ vận chuyển KIM-SA,

              TRU-TIÊN thiết lập bày ra,

Biết bao sanh sát binh mà lưỡng bang.

       Vì huyền linh đổi sang mặt trận,

       Hậu vi tiền chuyển vận Ngũ-Lôi,

              Cát bay đá chạy mịt trời,

Binh Tần rối loạn bị thời thần thông.

       Vì đệ-tử Ta không yên đặng,

       Bao trận đồ mà chẳng thành công,

              Triệu chư Tiên hạ trần hồng,

Cùng chư đồ-đệ khai thông trận tiền.

       BÌNH-LINH trận, chư Tiên phản vị,

       Phạm sát sanh nguyên thỉ khó tồn,

              Thề rằng chẳng dạy đồ-môn,

Đó là tránh đặng sinh tồn chơn linh.

       Vì lời thề phát sinh bao kỷ,

       Bế động Tiên, khỏi lụy phiền thân,

              Kỳ-Ba thọ sắc giáng trần,

Ban truyền huấn-dụ, lời phân hiền đồ.

       Nên nhớ lấy điểm tô tâm đạo,

       Nghĩa, Hiếu, Trung đào tạo nơi lòng,

              Tu như tâm chí bá tòng,

Bốn mùa mưa nắng cội tòng trơ-trơ.

       Hay giông tố mịt mờ gió bốc,

       Khi tuyết chan mưa móc mùa Đông,

              Giá buốt lòng chẳng nao lòng,

Ấy là bền chí bá tòng đời tu.

       Khoe sắc thắm mùa Thu hoa đẹp,

       Nắng phai màu gió nép thân mai,

              Hương hoa đâu hưởng đêm ngày,

Gặp cơn tầm tã, hoa khai, hoa tàn.

       Sống chung chạ, Phụng-Hoàng, Ô-Thước,

       Cũng đồng loài Khổng-Tước danh cao,

              ẩn thân ruộng lý, vườn đào,

Khác hơn Ô-Thước bay nhào biển Đông.

       Vì sanh thực, dòng sông tìm kiếm,

       Nào biết đâu nguy hiểm thân nầy,

              Đó là sống trong vòng vây,

Đạn tên chờ đợi, thi thây bám vào.

       Còn Phụng-Hoàng tiêu dao cảnh thượng,

       Ngự non thần trưởng dưỡng thân qua,

              ẩn thân núi thẳm rừng già,

Mặc cho đồng loại, vượt qua thế trần.

       Tánh ung-dung bước lần sang bước,

       Không lấn chen Khổng-Tước đồng sanh,

              Điều hòa kiếp sống nhàn thanh,

Ngọn đồi qua lại trên cành lá dao.

       Không mê luyến không vào bể cạn,

       Không lộ hình chỉ bảng danh đề,

              Nào là các tía xinh-xuê,

Nào cung điện báu, tựa kề cung Tiên.

       Hưởng thanh đạm đâu phiền dạ nọ,

       Muốn dạo chơi khắp ngõ dễ dàng,

              Muốn lần điện các Tiên-bang,

Vào cung điện ngọc đền vàng khó chi.

       Loài Ô-Thước lắm thì trược tánh,

       Tiếng la vang trong cảnh bình-minh,

              Lạ thay kiếp sống đời tình,

Ghét ghen Ô-Thước loại sinh cầm nầy.

       Buổi Hạ-Nguơn đổi xây tái-tạo,

       Giáng phàm trần khải giáo BÌNH-MINH,

              Lập thành nền tảng Đạo Huỳnh,

Chuyển đời Thánh-Đức nhơn sinh hưởng nhờ.

       BÌNH-MINH hoàn, Thiên-thơ ứng lộ,

       Cho môn đồ giải khổ thoát nguy,

              Bản thân phàm tục sá gì,

Nay thay mai đổi, có chi tại tồn!

       Thọ sắc chỉ Từ-Tôn lưu thế,

       BÌNH-MINH hoàn, sử để lưu truyền,

              Giã từ đồ-đệ trần miền,

Mãn rồi sứ mạng, cảnh Tiên phản hồi.

Thăng...

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Ba 2018(Xem: 16699)
Thiên thơ của Thiên Ánh Đạo Vàng với những tiên tri liên quan đến Thiên Đạo Huyền Không.
11 Tháng Ba 2018(Xem: 31959)
Mật điển của Phật Thầy Bửu Sơn, Pháp Chủ Thiên Khai Huỳnh Đạo chấp bút.
15 Tháng Sáu 2018(Xem: 8052)
Sấm Giảng Của Phật Trùm.
01 Tháng Bảy 2018(Xem: 9611)
Mật điển của Phật Thầy Bửu Sơn, Pháp Chủ Thiên Khai Huỳnh Đạo chấp bút.
05 Tháng Bảy 2018(Xem: 6404)
Đàn Cơ Thiên Khai Huỳnh Đạo. Đức Phạm Công Tắc, Hộ Pháp Cao Đài Đại Đạo Giáng Điển.
05 Tháng Bảy 2018(Xem: 7560)
Điển thi của Thiên Khai Huỳnh Đạo. Đức Ngôi Hai giáng đàn.
30 Tháng Bảy 2018(Xem: 9840)
Đàn cơ tại Bát Quái Đồ Thiên (Hà Tiên) năm 1935. Thi thơ cơ mật của Cao Đài chỉ lưu hành nội bộ, đến khi cả thế giới xảy ra cảnh: “Ngòi lửa dậy bốn bề nao nức, Năm Châu tràn tuyệt dứt nhơn sanh” và “Trung Đông chiến họa lưỡng dân điêu tàn.” thì nội dung mật đàn này mới được phép phổ biến. Sau năm 2001 chính là thời điểm.
31 Tháng Bảy 2018(Xem: 10768)
Điển Sấm của Phật Thầy Tây An, Ngọc Thanh Tiên Trưởng và Trạng Trình. Xuống điển năm 1976.
31 Tháng Bảy 2018(Xem: 8429)
ĐÀN CƠ NGŨ PHỤNG KỲ SƠN.
01 Tháng Tám 2018(Xem: 8255)
Đàn cơ của Thiên Khai Huỳnh Đạo. Nội dung chứa đựng nhiều mật khải quan trọng.
23 Tháng Tám 2018(Xem: 7556)
Những lần vấn đáp với Cô Lê Hoàng Kim, được biết đến là Kim Thân Cha, qua một thời gian dài được sưu tập và ấn bản có tên Thượng Đế Giảng Chơn Lý.
04 Tháng Mười 2018(Xem: 5926)
"Thất Nhựt Du Tiên" do Đức Ngô Chưởng giáo Ngô Văn Dư giáng cơ tại HỘI THÁNH THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO .. sau khi liễu đạo,
04 Tháng Mười 2018(Xem: 5248)
Huyền Khung Thượng Đế tóm lượt những chuyển biến của Đạo Cao Đài và ...
04 Tháng Mười 2018(Xem: 6415)
Kìa hướng Bắc chòm sao đẩu tinh đà ứng lộ, Xẹt vào Nam khắp chỗ ánh hào quang, Chiếu tường-vân ngũ-sắc khắp Nam-bang, (Tiên tri của Phật Thầy Tây An; đàn cơ 6/3/1971, Kinh Bình Minh Đại Đạo Quyển 3)
27 Tháng Mười 2018(Xem: 5191)
... Nhưng trên phương diện dân tộc và sự phấn phát đã đem lại cho nền Phật-giáo Việt Nam thì Bửu- Sơn Kỳ- Hương không khác Trúc Lâm Yên Tử.
11 Tháng Giêng 2019(Xem: 10479)
Đại học là một trong 4 sách cơ bản trong bộ Tứ thư của Nho gia...
12 Tháng Tám 2019(Xem: 3652)
Thượng Đế nói về 12 chi phái Cao Đài.
26 Tháng Ba 2020(Xem: 4245)
Tiên tri của Cao Đài, của Bần Sĩ Vô Danh, Của Hộ Pháp Phạm Công Tắc...
29 Tháng Ba 2020(Xem: 3748)
Tiên Tri của Cậu Bần Sĩ Vô Danh.
24 Tháng Mười Một 2022(Xem: 246)
24 Tháng Mười Một 2022(Xem: 233)
24 Tháng Mười Một 2022(Xem: 146)
25 Tháng Mười Một 2022(Xem: 171)
25 Tháng Mười Một 2022(Xem: 177)
25 Tháng Mười Một 2022(Xem: 215)
05 Tháng Mười Hai 2022(Xem: 426)
07 Tháng Mười Hai 2022(Xem: 212)