CỰC LẠC THUYẾT TỬ KINH

12 Tháng Mười Một 20181:49 SA(Xem: 6772)

 

ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG

CHÍ TÔN KHAI GIÁO KỲ BA VÔ VI

 

 

 

CỰC LẠC

THUYẾT

TỬ KINH

 

 

 

GIÁO HỘI THIÊN TRƯỜNG

TÒA ĐÌNH TRUNG ƯƠNG

 

 

 

Huyền Không Thiên Thượng ban Cực Lạc Thuyết Tử Kinh cho Giáo Hội Thiên Trường vào ngày 7 tháng 9 năm Mậu Tuất (14/10 /2018) và ngày 20 tháng 9 năm Mậu Tuất (27/10/ 2018), tại Thánh Đàn Nam Thành, giờ Mão.  Tòa Đình Trung Ương GHTT Nam California dự đàn.  Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền tiếp điển ứng khẩu lưu xuất kinh văn.  

 


Website: www.onglaidoky3.com

Email: lienkyhaihoi@gmail.com

 
V3.2023

LƯU Ý

Những chữ nằm trong ngoặc vuông [ ] là do Người Ghi Chú thêm vào, không phải là nguyên văn, nhằm mục đích chú giải một từ ngữ hoặc một ý của những chữ, câu, đoạn để giúp phần nào cho người đọc trong việc lĩnh hội nghĩa lý của kinh văn.

 

Người Ghi Chú thực sự là không am tường Hán Việt hoặc Nôm Việt, chỉ dựa vào từ điển để chú giải hợp lý nhất theo chủ quan của mình cho nên có thể sai lầm trong việc chú giải. Mong được sự lượng thứ của tất cả và, nếu có thể, xin các cao nhân chỉ giáo cho Giáo Hội Thiên Trường sẽ rất biết ơn.

 

Hiệp Thiên Huyền tiếp điển ứng khẩu lưu xuất kinh văn. Tất cả đều được ghi âm rồi viết lại. Có những chỗ vì do phát âm không chuẩn cho nên khi nghe và chép xuống có thể đã mắc phải sai lầm.  Tuy nhiên tất cả tư liệu, âm thanh và hình ảnh, đều được lưu trữ cẩn thận để sau này đồng đạo hoặc học giả có thể kiểm chứng tính xác thực của kinh văn.

 

 

 

 

1. ÁN CHƠN NGÔN

 

Tịnh Ý, tịnh Thân, tịnh Khẩu môn

Tịnh Nghiệp trần ai, tịnh Chơn Ngôn

Án Thiên, án Địa, án Pháp Giới

Án Pháp Vô Vi Đại Pháp Tôn. (1)

Si Ta Na Hi Ru Ra Ha

Trung Du Đa Du Ri Na Da

Ta Đà Ru Da Di Tất Da

Mông Di Rị Da Đà Ra Ha. (2)

 

2. DÂNG TÂM HƯƠNG

 

BỬU Tòa Chương chư sinh đảnh lễ

HƯƠNG thiền dâng cúng khắp 10 phương

KỲ hương bay tỏa vô tận cõi

PHÁP giới trang nghiêm tâm giới tưởng

NHÃN Tạng Huyền Không hiện đạo trường. (1)


3. CHÁNH KINH

 

CỰC LẠC THUYẾT TỬ KINH

 

 TIỆP TIỆP HUYỀN KHÔNG TỐC HIỂN THINH

XUÂN VINH HOA PHÚ HỰU NHƠN TÌNH

NAM NỮ HỌA THÀNH LIÊN HOA ĐẶNG
CỰC LẠC KHÔNG KHÔNG THUYẾT TỬ KINH.


[TIỆP TIỆP = Mau mau. TỐC = Nhanh. PHÚ = có nghĩa là bày tỏ; còn là một thể loại văn vần hoặc văn xuôi xen lẫn văn vần dùng để tả tình, cảnh, hoặc phong tục. HỰU = khuyên răn. TỬ = Con.]

 
1. LÃO QUÂN LÃNH MẠNG HỒNG TRẦN CỨU LINH

LÃO QUÂN LÃNH MẠNG
HỒNG TRẦN CỨU LINH 

ĐỘ ĐẶNG CĂN MÊ.

Lao nhọc bôn ba [để] độ về
TAM GIÁO PHẬT THÁNH LONG HUÊ tấu rằng:
"Xin LÃO MẪU diệu hoằng vị phán,
Thương linh căn bớt giận, phân ra
Thuận nghịch thành việc, [rồi] cõi hà
[mới] Lấp trời không [với] nước.", nghe TA trên trời.
 
TA hiệu LÃO [QUÂN] đáp lời dạn nói
Rằng: "[hãy để] LÃO QUÂN trực tới phàm môn".
                                             
Coi [thấy] chúng [hạ] hình thế loạn hồn
[LÃO QUÂN] Giật mình tỉnh ngộ sập quỳ xuống xin:
"Xin MUÔN ƠN [LÃO MẪU] từ bi cứu độ
Thả bè ra biển khổ cứu dân."

[LÃO QUÂN] Biểu chúng tàng linh [phải lo] giữ phận!
LÃO [QUÂN] nói đặng đoán [luyện] TỊNH THÂN [mà] thoát về.

HỌC TỊNH CÔNG dứt mê trong bụng
BỤNG SẠCH TRONG đến chừng bằng sở [như thế đó]
Nhớ [làm] y theo [lời] LÃO thuyết [trong] thi thơ:
CHỈNH! CHỪA! TRONG SÁNG! TRÚC CƠ LUYỆN HỒN!

 
[Theo giáo lý Phật Đà thì 6 Căn là NĂNG còn 6 Trần là SỞ. Cho nên câu BỤNG SẠCH TRONG ĐẾN CHỪNG BẰNG SỞ có thể hiểu theo Phật Đạo là: mặc cho [BẰNG] 6 trần [SỞ] đến chừng đó thì bụng sạch trong (nhờ luyện tịnh công).]

LÃNH KHẨU QUYẾT trần hồng theo khởi
GẦN ĐẾN KỲ khi nổi quỷ ma
Hồi đầu thì đặng thoát ra [ma chướng]
Có duyên [được gặp] TIÊN PHẬT KỲ HOA phen Càn [Trời].
 
Cải! bỏ! ĐẠO: sắc tài cũng phế
QUY Y nghiêm [túc] tập thể hành tu
Tánh nhơn TẤN ĐẠO CÔNG PHU
THANH NGHIÊM PHẬT THÁNH trì tu giữ gìn!

GIỮ Y từ trong mình ĐẠO LỄ
DỒI LUYỆN THÂN hạ mễ vô thư
Thông thân nhứt tiển linh như
Chơn nam chơn nữ muốn tu hành: HÀNH!

 
[THÔNG = Đạt tới. THÂN = Làm cho hết nghiêng lệch. NHỨT TIỂN = hoàn toàn sạch, hoàn toàn tốt lành. LINH = Khiến cho. NHƯ = Không nhiễm trần. HẠ = Sấy khô. MỄ = Gạo, hạt đã tróc vỏ. THƯ = Đá có lẫn đất. HẠ MỄ VÔ THƯ = Sấy khô gạo không lẫn đất đá, sấy khô gạo sạch. ] 
 


2. NAY MẸ HÉ CƠ ĐÀN CHỈ RÕ


Thương nhơn sinh lửa phiền lùa thổi
Tranh luận đời u tối kỳ lôi [đánh đấm]
Không cứu vãn cuộc đời chung tất
Gởi lời khuyên bớt lần vật chất
 
Cảnh tương tàn tương sát đáng thương
Ngày tận diệt kẻo khổ liệu đường
Giờ đã hết vì thương trẻ dại
Đắm sa trần chớ biết phen này

Nhìn trước cuộc máy tạo càng ngày
Đây thuốc đoạn [khổ] thế mà con mãi [chần chừ]
Đã nhiều lời MẸ KHẢI ĐỜN KÊU
TRUYỀN LẬP HỘI TÀNG LINH KIM HIỆU

DIÊU ĐIỆN CUNG VI DIỆU HUYỀN VI
BẠCH VÂN đang xem thấu tử nhi
Phù sanh nghiệp con thì lại ham
Nơi bể trần trẻ sẵn phải mang

Mấy nhiêu niên hồng trần khách bạn
Sụp đổ con ơi cảnh tương tàn
NAY MẸ HÉ CƠ ĐÀN CHỈ RÕ
XOAY CÀN KHÔN CHẲNG THƯỜNG ĐÂU ĐÓ

[XOAY CÀN KHÔN CHẲNG THƯỜNG ĐÂU ĐÓ = Ý nói xoay/vận hành/dẫn Vòng Càn Khôn (của bí pháp luyện đạo) chẳng phải chuyện tầm thường. Xoay Vòng Càn Khôn của bí pháp đặng thành rồi tức đã XOAY chuyển được CÀN KHÔN.]

HIỂN ÂM DƯƠNG TA RÕ, tai ương
Đời điên đảo ma tinh chớ tưởng,
SỚM HỌC TIÊN THIÊN đường hóa đặng
LƯỠNG [MẠCH] thông thân xuất xác THẬP lai

[HIỂN ÂM DƯƠNG TA RÕ = Ý nói làm chủ được âm dương thì biết rõ huyền vi của Tạo Hóa. LƯỠNG MẠCH THÔNG THÂN XUẤT XÁC THẬP LAI = Câu sắp xếp lại: Lưỡng mạch thông THẬP lai xuất xác thân; Ý nói 2 mạch Nhâm Đốc thông thì THẬP TỰ lai xuất thân xác. THẬP TỰ biểu tượng cho "Vũ Trụ", biểu tượng cho "Thời Không vô hạn". Vạch đứng, khắp hết không gian, là Vũ.  Vạch ngang, suốt hết thời gian, là Trụ.]

THIÊN THƠ HẠ LINH QUANG NHƯ HẢI 
Cầu nhứt thử khẩu tôn chứng nệ
ĐOÁI CHƠN THIÊN LINH THỂ QUYỆN THƠ
Thượng thượng phẩm mở ân dương bổ

[THIÊN THƠ HẠ LINH QUANG NHƯ HẢI = Ý nói: một khi THIÊN THƠ được bố xuống thế gian (HẠ) thì Thiên Điển (LINH QUANG) bủa xuống trùng trùng như biển ánh sáng. ĐOÁI CHƠN THIÊN LINH THỂ QUYỆN THƠ = Ý nói: CHƠN THIÊN nào biết đoái hoài Thiên Điển của Thiên Thượng ban cho, tức là biết quí trọng THIÊN THƠ và đem THIÊN THƠ nhập vào trí thể (QUYỆN THƠ) thì LINH THỂ của vị CHƠN THIÊN đó sẽ được phủ đầy ánh sáng LINH QUANG.  THIÊN THƠ "nối kết mặc định" với LINH QUANG NHƯ HẢI cho nên QUYỆN THƠ tức là QUYỆN LINH QUANG NHƯ HẢI. "Truy cập" THIÊN THƠ tức là truy cập LINH QUANG NHƯ HẢI.]

SÁU CỬA mở lớn vô đầu, TỊNH!
RẠCH ÂM DƯƠNG TẠO HÓA SƠN LINH [THỨU]
Ngày tháng lẹ tàng linh biển khổ
Khó đặng ra thiết quách đồng tô

[SÁU CỬA MỞ LỚN VÔ ĐẦU, TỊNH RẠCH ÂM DƯƠNG = Ý nói: 6 Căn nếu mở rộng thì 6 Trần sẽ xâm nhập cho nên phải đóng lại, lo điều dẫn âm dương trong thân. TẠO HÓA SƠN LINH = Ý nói: (1) tạo hóa đã ban cho mỗi người một LINH Thứu SƠN (cái đầu) thì hãy hướng vào đó mà RẠCH ÂM DƯƠNG; (2) Hãy RẠCH ÂM DƯƠNG tạo hóa ra một LINH Thứu SƠN ngay trên bản thân.]

Cưỡng Xích Đầu nó bổ [tróc] chỉ [tới khi] tỉnh
Thấy [Quỷ] Vô Thường chẳng kịp biện minh
Tính trở lại ức linh chơn tánh
THƯỢNG LINH TIÊU xét thường nào sánh

MẪU hưng thi đặng hanh thuyết [thông giảng] [thiên] thơ
THAY CỐT MỚI này TU ĐẶNG chớ
Gởi các con kim thơ ngọc lấy
Thông thuộc [nằm] lòng mẫu tử lâu phai

Lời gian thế MẸ đây khúc đoạn
Hồng trần cách học TIÊN THOÀN đặng
Chí vâng lời thoát nạn, TIÊN THIÊN
HỒI NGUYÊN BỔN chắc AN HỐNG DIÊN.

[DIÊN = Nguyên khí trong thận gọi CHƠN DIÊN. HỐNG = Chơn Thần nhập cốc là CHƠN HỐNG. DIÊN HỐNG = "Thái thủ Nguyên Thần DIÊN HỐNG hội, quá quan phục thực Pháp Luân chuyền".
Xem bài Chơn Kinh Thiên Phật #6 của Đức Ngài dạy.]

 

TRUYỀN LƯU ĐỊA MẪU NGƯƠN THẠNH VỊ
HỖN ĐỘN SƠ KHAI MẪU TÔN VI
ẤN TỐNG GIA KỈNH TRUYỀN NGÔN KHUYẾN 
CHƠN NỮ CHƠN NAM HẠ ĐÌNH KỲ.


3. DI LẠC PHẬT RA CỨU CHÚNG SANH

LINH SƠN HỆ HÃN CÔNG [PHU] CỬU CHUYỂN
NGỌC LẠC ANH NHI XUẤT THẬP NIÊN
KIM CA NGỌC LỘ bài tam Mậu
Vô kì Lục Mậu ngoạt kỳ thiền.

[TAM MẬU = Mỗi tháng có 3 ngày Mậu. VÔ KÌ = không có thời hạn nào. LỤC MẬU NGOẠT KỲ = Mỗi kỳ tháng 6 và tháng Mậu.]
 
Vân liễu TRƯỜNG SINH liệu đáp thâu
CHƠN DIÊN CHƠN THẢO vạn tận đâu
TỤ ĐIỀN ĐẠO HƯỚNG PHONG PHÙ PHÓNG
KHÚC BÀN TAM QUAN THỐ KẾT BÂU.

[TAM ĐIỀN hay TAM ĐỊA = Gồm Thượng Điền (vùng đầu), Trung Điền (vùng ngực), Hạ Điện (vùng bụng dưới). PHONG PHÙ = hơi thở nhẹ. KHÚC = Cong queo.  BÀN = Quanh co. TAM QUAN = 3 ẢI = Gồm Vĩ Lư Quan, Giáp Tích Quan và Ngọc Chẩm Quan. THỐ = vầng trăng. KẾT BÂU = Tỏa viềng sáng. Tám câu trên trên vừa chỉ điểm bí pháp tu luyện và ấn chứng lại vừa chỉ điểm thiên cơ [THỐ = năm DẬU].]

Liễu liễu nhất tiện lại cho thắm
Tất NHÃN KHÍ THẦN thiên khuyết phong
THAI CHƠN HOÀI NỮ thế gian tại
Bạch diệp liễu bàn CẨM TÚ HỒNG.
 
[NHẤT TIỆN LẠI CHO THẮM = Khéo làm yên lại cho đằm thắm.  THAI CHƠN HOÀI NỮ = Ý thứ nhứt theo ngôn ngữ bí pháp là Chơn Nữ Hoài Thai; Ý thứ hai theo bạch văn là Hoài Thai Chơn Nữ. CẨM TÚ = Cẩm Bửu, Cẩm Phú, Cẩm Tú là chú âm từ chữ Campubhara, tên của Nữ Vương Quốc Mẫu Campuchia; Campubhara là một tiền thân của Nhị Nương Diêu Trì Cung vì thế bà có tôn danh là Cẩm Tú Tiên Tử; Nhị Nương còn có những phong danh khác như là Hồng Liên Công Chúa, Tây Thiên Thánh Mẫu, Tây Vương Mẫu, Hội Yến Đại Tư Tế. HỒNG = Hồng Liên Hoa Công Chúa, phong danh này do Kim Mẫu Diêu Trì ban cho 9 con "chiết thân" của Mẫu. Bốn câu trên vừa chỉ điểm bí pháp tu luyện vừa chỉ điểm thiên cơ.]

Kim [nay] phong quản lập HOA đài
Hảo KỲ duyên, ký [phó thác] TRẬN MỞ KHAI
Nhãn quang cước thủ tề tảo tận
THĂNG GIÁNG TIÊN THIÊN ĐẶNG TIẾP HÀI.

[Khoán 1: HOA KỲ TRẬN MỞ KHAI, ý nói: mở đường (đánh trận) khai nền Đại Đạo trên đất Hoa Kỳ. Khoán 2: KIM PHONG HÀ QUẢN LẬP HOA ĐÀI, HẢO KỲ DUYÊN KÝ TRẬN MỞ KHAI, ý nói: nay sắc phong ông Hà (Đức Ngài) lập và quản HOA ĐÀI, duyên lành khó gặp để phó thác công việc mở đường (đánh trận) khai nền Đại Đạo.  NHÃN QUANG = Con mắt chiếu sáng, biểu tượng của Thượng Đế Huyền Khung.  CƯỚC THỦ = ĐẠO; Chiết thủ của chữ ĐẠO 道 gồm chữ Sước 辶 nghĩa là "đi, chạy" cận nghĩa với chữ CƯỚC nghĩa "chân để đi, đưa đường" (mượn chữ Cước nói chữ Sước) + chữ THỦ 首 nghĩa là "khởi thủy, đứng đầu". NHÃN QUANG CƯỚC THỦ = có thể hiểu nôm na là "con mắt đạo" và "đạo con mắt".  TỀ = Sắp xếp công việc. TẢO = Từ lâu. TẬN = Hết lòng lo xong.
TIẾP HÀI = tiếp tục công việc trước đây (tiền kiếp), ý nói: Đức Ngài trong kiếp quá khứ đã từng "khai trận" "Đạo Con Mắt".]

ÂN THIÊN HỮU CHÚC [PHÓ THÁC] CHỜ ỨC BẢY [7 ỨC]
MỚI MỞ TIÊN CUNG LỘ BIẾT NGÀI
Một chữ THÀNH NGUYỆN nay cơ hé
THIÊN TIÊN XỨ CŨ TỎA HOA LÀI.

ĐẠI PHÁP HỒNG ÂN MAI ĐẶNG THÀNH
DI LẠC PHẬT RA CỨU CHÚNG SANH
NƯƠNG NƯƠNG PHỔ ĐỘ ĐỀU ĐI XUỐNG
KHAI KHẨU vị đa giáng tế LÀNH.

   

[KHAI KHẨU LÀNH = Khai khẩu Ngọc Lành; Ngọc Lành là Thiên Danh do Đức Ngọc Thanh Tiên Trưởng ban cho cô Nguyễn Thị Thanh, một vị Hiệp Thiên Huyền Nữ của Giáo Hội Thiên Trường. NƯƠNG NƯƠNG PHỔ ĐỘ ĐỀU ĐI XUỐNG, KHAI KHẨU VỊ ĐA GIÁNG TẾ LÀNH = Tất cả các nương (ĐA VỊ GIÁNG) của Diêu Trì Cung đều xuống thế để phổ độ chúng sanh trong cơ Thiên Khai Huỳnh Đạo Kỳ Ba Vô Vi (Giáo Hội Thiên Trường) này. Trong số các vị, kim thân NGỌC LÀNH được Thiên Thượng sắp xếp công việc  (TẾ) làm ngôn sứ cho Thiên Thượng (KHAI KHẨU).]    

Xuống trần bốn ức tàng linh điển
DI LẠC PHẬT ĐƯƠNG KIM [NAY ĐANG] THÂN HIỆN
PHẬT TỔ, QUAN ÂM HỘI MỘT ĐƯỜNG [VỚI]
 
CỬU DIỆU, CHƯ LINH ĐỘ THÂU NHIÊN.

[CỬU DIỆU = Cửu Diệu Tinh Quân gồm Thái Dương, Thái Âm, Thái Bạch, Mộc Đức, La Hầu, Kế Đô, Vân Hớn, Thổ Tú, Thủy Diệu. NHIÊN = Rõ ràng là. CHƯ LINH ĐỘ THÂU NHIÊN = Rõ ràng là độ thâu chư linh.]


4. THI VƯƠNG PHÁP LỚN THIÊN MẠNG TÁI.

Tháng Ba Rằm tiết TIÊN THIÊN hội
Tháng Năm TRUNG THIÊN LONG HUÊ coi
Tháng Tám Rằm HẬU THIÊN LONG MẪU
THIÊN HẠ MẪU VỊ bất tại nơi.

Duyên TIÊN duyên PHẬT nhãn quang sáng
Luyện khúc chi [mà] vâng nhất thông thân
Nay đời mạt kiếp một phen khổ
CHƯ TIÊN CHƯ PHẬT HẠ PHỔ ĐÀNG.

Từ nay chân yếu thời bước té
Dở chân không nổi, thôi [hãy] dứt mê
Chạy ngay qua biển, mịt mờ tối [rồi]
TRỞ LẠI TÁNH THIÊN MỚI TRỞ VỀ.

LỜI GIẢNG DẠY TÙY LAI CƠ GIÁNG
NGƯỜI CÓ DUYÊN CÔNG QUẢ XÁ ÂN.

THÁNH CHƠN PHÂN TÁNH, CHƠN TÁNH PHÂN
THI VƯƠNG PHÁP LỚN, THIÊN MẠNG TÁI
MÃN HẠN VỀ HUY HOÀNG MẪU KHAI.
 
HOÀNG MẪU KHÓC lụy buồn thế gian
[ĐẤNG] TẠO HÓA ÂM DƯƠNG độ [chúng] ngày nay.

Chẳng biết bao nhiêu RA [KHỎI] BIỂN KHỔ
THẲNG TỚI TIÊN THIÊN, lỡ [như] biển khô
Chống ghe đến đó tang điền biến
Chèo ghe chưa vững [có] thể chìm gô.

Ở TRONG DỤC HẢI nghe tiếng, chuyển
ĐIỂN CHẲNG PHẢI NGƯỜI, kêu một tiếng
DẸP PHÁ SÔNG MÊ, trược uế sạch
GIỮ LÒNG CHÁNH TRỰC quỷ ma kiêng.

Điên điên đảo đảo [té ngã] qua [té] ngã lại
Trở lửa gió [thổi] qua [bùng cháy] coi kêu ai
ĐÀN KHAI CƠ ĐIỂN LỜI GIẢNG DẠY
TÁNH THIÊN NGHE NÓI GIÁNG CƠ LAI.

 

5. ĐẠI ĐẾ VƯƠNG HOÀNG THIÊN-VẠN VẠN-THIÊN


Tinh [khiết] trang [nghiêm] nhập hạ

Bàng giả [người ở bên cạnh] túc điền [bản thân nghiêm túc]

Như tiền phục hậu [phía sau làm theo phía trước]

Hồ đấu [ghép với nhau] diên [kéo dài] quân [điều đặn]

HƯNG hạ hữu

Hướng tự linh gia

Hạ hạ mạo tùy
Lương đồ thiết kỷ


[HẠ = Hạ thế. CƠ HƯNG HẠ HỮU = Cơ được (hữu) HƯNG [Đức Ngài] xuống thế (hạ). HƯỚNG = Trước nay.  TỰ = giống như. LINH GIA = Người lênh đênh vô gia. 
MẠO = Lựa chọn. TÙY = Thuận theo. HẠ HẠ = Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. LƯƠNG ĐỒ = Học trò giỏi khéo. HẠ HẠ MẠO TÙY LƯƠNG ĐỒ = Tùy thuận hàng thấp kém nhất mà lựa chọn môn đồ giỏi. THIẾT KỶ = Sắp bày chính sự cơ yếu.]

Thủ ý hữu qui

NHỨT THIÊN NHỨT LỘ

LAI HỘ PHÁP THIÊN
DIỆU HUYỀN VẠN PHÁP


[THỦ Ý = (1) Giữ ý; (2) Nhiếp tâm [nằm trong 4 chữ AN BAN THỦ Ý. AN BAN là niệm hơi thở. THỦ Ý là nhiếp tâm. "AN BAN là đại thừa của chư Bụt dùng để tế độ chúng sinh lênh đênh trên biển khổ" (trích lời Thầy Tăng Hội viết trong tựa kinh An Ban Thủ Ý)].  HỮU QUY = lại vừa nương theo. THỦ Ý HỮU QUI = Vừa giữ ý lại vừa nương theo. NHỨT THIÊN = (1) ngàn lần, (2) ông TRỜI (Thiên Nhứt). NHỨT LỘ = (1) một lối, (2) Một lần hé lộ.  NHỨT THIÊN NHỨT LỘ = (1) ngàn lần cũng như một, (2) Thiên Trời (Thiên Nhứt) một lòng (nhứt tâm) hé lộ. HỘ = (1) Cửa một cánh (Môn = cửa 2 cánh), (2) Nơi lui tới. LAI HỘ PHÁP THIÊN = Đến cửa Pháp của Trời. DIỆU = Mầu nhiệm, thần kỳ. HUYỀN = Áo diệu, sâu xa. DIỆU HUYỀN = Huyền diệu = "Huyền chi hựu huyền chúng diệu chi môn" (Đạo Đức Kinh, Lão Tử]. DIỆU HUYỀN VẠN PHÁP = Vạn pháp mầu nhiệm thần kỳ, áo diệu sâu xa 

Ngoạt ngoạt vô kỳ

DIỆU LÝ ĐÁO THUYẾT

BẤT TUYỆT BẤT HÀ
Xuân Hạ Thu Đông


[NGOẠT NGOẠT VÔ KỲ = Tháng tháng tiếp nối không kỳ hạn. DIỆU LÝ ĐÁO THUYẾT = Chu đáo thuyết giảng lý nghĩa thâm sâu. BẤT TUYỆT BẤT HÀ = Liên tục không dứt, không tì vết khiếm khuyết. Xuân Hạ Thu Đông = Quanh năm suốt tháng.]

Chiếu đồng hậu thế

ĐẠI ĐẾ VƯƠNG HOÀNG

THIÊN-VẠN VẠN-THIÊN


[CHIẾU ĐỒNG HẬU THẾ = Soi sáng cùng đời sau.]


Lữ hiền chi sự
CƯ LỘ TÂY [CALI]

Trực đài đáo chỉ

Kim vĩ nhựt lâm
Du tầm phước hữu


[LỮ HIỀN CHI SỰ = Sự việc của lữ khách đức tài [chữ KHÁCH ở đây ám chỉ chữ KHÁCH nằm trong 4 chữ thiên cơ QUỐC KHÁCH ĐẠI ĐẠO của Bửu Sơn Kỳ Hương]. HÀ CƯ LỘ TÂY = HÀ [Đức Ngài] cư trú và hiển lộ ở Phương Tây [Hoa Kỳ]. TRỰC ĐÀI ĐÁO CHỈ = Thẳng đến Hoa Đài (trực chỉ đáo đài). VĨ NHỰT = Mặt trời sáng rỡ. KIM VĨ NHỰT LÂM = Nay mặt trời sáng rỡ giáng lâm tới đó. DU TẦM HỮU PHƯỚC = Hữu phước thì đi tìm.]

Hướng tự vương an

Lậu thân kim triệu

PHẢN CHIẾU NHƯ HÀ
THIÊN HOA ĐẠI PHÁP.


[HƯỚNG = Xưa, trước đây.  HƯỚNG TỰ VƯƠNG AN = Trước đây Vương ẩn náo nơi chùa. LẬU THÂN = (1) Hiển lộ thân phận, (2) Thân hữu lậu. TRIỆU = Khai mở, triệu tập, chỉnh sửa. LẬU THÂN KIM TRIỆU = (1) Nay khai mở để lộ thân phận, (2) Chỉnh sửa/khai mở (triệu) kim thân hữu lậu. NHƯ = (1) Giống như, (2) Không nhiễm trần ai. HÀ = (1) Sông, (2) ông HÀ.  PHẢN CHIẾU NHƯ HÀ = (1) Giống như sông (như hà) hắt ngược ánh mặt trời, (2) HÀ [Đức Ngài] như như phản chiếu, không dơ (bất cấu) không thấm (bất nhiễm). THIÊN HOA ĐẠI PHÁP =  Đóa Sen Trời (Thiên Hoa) của Chơn Pháp lớn (đại pháp).]
 
 

6. ĐẠI ĐỒNG VƯƠNG PHẬT CHÍNH THẤT VIỆT NAM

THIÊN THỜI ĐỊA LỢI
TIẾN TỚI ĐẠI ĐỒNG

TRẦN HỒNG LẬP LẠI

Nam trai nữ gái

Đông Tây Nam Bắc

[CÔNG PHU] HÒA TRẠCH [AN TRỤ] ÂM DƯƠNG

Rõ tường thời cấp [làm gấp]

Sương tuyết nắng mưa

ĐÚNG GIỜ! nóng lạnh [âm dương]

Ngũ hành, cửu phẩm

Quang âm [thiên điển] chuyển [vận hành] rày

MẪU bày sắp tiếp

Nam Việt non sông

ĐẠI ĐỒNG VƯƠNG PHẬT
CHÍNH THẤT VIỆT NAM


[ĐẠI ĐỒNG VƯƠNG PHẬT = Phật Vương của
Thế Giới Đại Đồng. CHÍNH THẤT VIỆT NAM = Chánh danh/chánh vị Vương Triều Nam Việt.]

KHẮP NĂM CHÂU TRỖ

ĐÁO LỘ THÁNH TIÊN

ĐỨC DUYÊN TÀI ĐẠO
NGÔI GIÁO HIỆN TIỀN


[Nhơn Thánh, nhơn Tiên có đủ đức duyên tài đạo trên khắp 5 châu lộ mặt đến nơi Ngôi Giáo hiện tiền.]

THIÊN TIÊN ỨNG HIỆN

Nhủ: TRUYỀN KỲ NHỨT

CẢNH PHẬT DIỆU HUYỀN
Thiêng liêng khởi lậu


[NHỦ = Dặn dò ân cần. TRUYỀN KỲ = Những truyện lạ khó tin được lưu truyền. NHỨT CẢNH PHẬT DIỆU HUYỀN = Khẳng định sẽ có cảnh Phật diệu huyền. THIÊNG LIÊNG KHỞI LẬU = Các Đấng Vô Hình đã bắt đầu vén màn cho thấy.]

Phụng tấu KIM TRÌ:

NGƯỜI vì phàm hữu

Gìn giữ, Đông
NỞ HOA TRÍ TUỆ


[PHỤNG TẤU = Văn thư đại thần dâng lên vua. KIM TRÌ = Kim Mẫu Diêu Trì. (1) VÌ  GÌN GIỮ
NGƯỜI PHÀM HỮU [ĐẠO] = Vì gìn giữ người thế phàm có đạo. (2) NGƯỜI VÌ [HẠ] PHÀM HỮU GÌN GIỮ = NGƯỜI vì xuống phàm có gìn giữ. [NÊN] ĐÔNG [MỘC] HÀ NỞ HOA TRÍ HUỆ = Đông Mộc Công họ HÀ [Đức Ngài] nở hoa trí huệ.]

LINH HUỆ ẮT THÔNG,

Hướng Đông CHẤN ĐẾ

KỲ THỂ HIỆN SINH
THIÊN LONG HIỆP TÌNH


[ẮT = Ắt là, ắt phải. CHẤN = Quẻ sấm sét, hành mộc, hướng đông, ý nói oai thinh của Trời làm muôn loài run sợ, ám chỉ Ông Trời.  HƯỚNG ĐÔNG CHẤN ĐẾ
KỲ THỂ HIỆN SINH = (1) Đức Đế Công hiện đang có thân xác dưới thế, (2) Đức Đế Công có phàm thân đang sinh sống tại Kỳ Hoa.  THIÊN LONG HIỆP TÌNH = Chư Thiên Long thuận lòng đi theo.]

Tài minh thể hiện

Lịnh tiễn phụng ngân

Bố ban khai ý

TỪ BI CHƠN NHƯ

VUI TỪ HẠNH ĐẠO.


[TÀI = Năng lực. MINH = Sáng suốt. LỊNH TIỄN = Cờ lệnh có cắm mũi tên sắt của các tướng soái dùng để làm hiệu lệnh hoặc để làm tin. PHỤNG = Vâng ý người trên. NGÂN = Hòa hợp. LỊNH TIỄN PHỤNG NGÂN = Vâng làm hòa hợp hiệu lệnh ban ra.]


7. TRONG NGOÀI THẤY BIẾT LỊNH KỲ VÔ TRANH

HỒI TRỐNG ĐIỂM ĐỨC TÀI LỘ LỘ

ÁNH THIÊN QUANG LÃO BỐ TẦNG CAO 

CHỦ TRÌ KHAI MỞ ĐỊA SAU

ĐÔNG NAM CHU ĐẾ QUANG HÀO ÁNH THIÊN.

NỀN KHÔN ĐẾ CỬU THIÊN HUYỀN NỮ

DANH HUYỀN THIÊN CHỦ THỦ LAI KHI
NAY MAI SẼ TƯỜNG VIỆC CHI
TRONG NGOÀI THẤY BIẾT LỊNH KỲ VÔ TRANH.

 
[KHÔN ĐẾ = Vô Thượng Hư Không Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn.  HUYỀN THIÊN = Vô Cực Huyền Thiên Thượng Đế.]

Mau! [đúng] kỳ đón NGỌC HOÀNG VÔ THƯỢNG

Ban hồi kỳ lịnh, phướn, điển linh

ĐÚNG GIỜ ĐÚNG KHẮC Y MINH

THÔNG ĐƯỜNG MỞ CÕI OAI THINH ĐĂNG KỲ.

 

Tám hướng khai Y CHỈ OAI THINH 

Thiên cơ chuyển CHƠN TINH [QUÂN] HẤP THỤ

MUÔN VẠN CON THUYỀN KHÔNG HƯ [HƯ KHÔNG]

TRƯỜNG [THIÊN] NEO LUI TỚI, CHƠN TỬ CỐ LÊN!

Thiểm [chớp lóe] điển thăng THIÊN trở [về] hư vô

Đáo đáo hạ GIANG GIẢ tiết lồ [lộ, hiển bày]

Hữu ngạn DI xuân thao NGỌC chuẩn

Tuất tiết niên HOÀNG tọa Bắc hồ.
 


8. PHẬT ĐƯƠNG HỒNG TRẦN GIẢI THOÁT LINH


ÂN MAY SANH CHÚNG DI LẠC PHẬT

TƯƠNG HUYỀN GIAN THẾ THUYẾT CƠ MẬT

Chi hữu, chi văn, đàn một tiếng
TIÊN PHẬT HẠ ĐÀNG thế phàm bình


[TƯƠNG = Đem. HUYỀN = Huyền diệu. TƯƠNG HUYỀN CƠ MẬT GIAN THẾ THUYẾT = Đem điều huyền diệu cơ mật thuyết cho thế gian biết. CHI HỮU = Này sung túc. CHI VĂN = Này văn minh. ĐÀN MỘT TIẾNG TIÊN PHẬT HẠ ĐÀNG THẾ PHÀM BÌNH = Đàn một tiếng Tiên Phật xuống đường thế phàm bị san bằng.]

Thâu chi mạng hạ đề DI LẠC

Khoán TỪ ngôn lịnh thủ bắt xa

CHUNG TỌA THỊ MÀN BA HÉ THẬT
CỨU NHÂN SINH ĐÀO CÚC HỒNG CA


[THÂU CHI MẠNG = Lấy chi mạng sống. HẠ ĐỀ = Hạ bút đề thơ. KHOÁN = Ký gởi. TỪ NGÔN = Lời từ bi. DI LẠC HẠ ĐỀ KHOÁN TỪ NGÔN = Di Lạc xuống bút đề thơ ký gởi lời từ mẫn. LỊNH THỦ [NẮM] BẮT [TỪ LÂU] XA = Lệnh giao tận tay nắm giữ từ lâu xa. CHUNG = Chung cuộc, kết thúc. TỌA THỊ = Ngồi nhìn.
THẬT HÉ  TỌA THỊ MÀN BA CHUNG = Thật sự hé cho thấy ngồi nhìn màn ba chung cuộc. ĐÀO CÚC HỒNG ... = Các tinh hoa. CA = Ngăn chận, hạn chế. ĐÀO CÚC HỒNG CA CỨU NHÂN SINH = Các đấng tinh hoa ngăn chận tình hình để cứu nhân sinh.]

PHÀM XUỐNG THẾ LẠC TA DI HỮU

ĐÁO TIỀN MÔN VÃN CỨU SINH LINH

Đương công Ẩu lai ĐÌNH lộ NGỌC
Đặng khiết hài gắng phúc ngày nay


[ẨU = Â Châu; Âu Châu đây không có ý nói Europe mà nó nói toàn thể Phương Tây, tức là tất cả đất nước nằm ở Tây Bán Cầu. Kinh tuyến 0 độ nằm giữa Thái Bình Dương chia quả địa thành Tây và Đông. CÔNG = Công vụ. KHIẾT = Dắt dìu. HÀI = Hài nhi, con trẻ.]

DI TẠ HỮU DI ĐÀ CHI HỮU

XUẤT THẾ TRẦN TẠO BƯỚC MÔN ĐÀI

Vi NHÂN vi ĐẠO bất vi danh

Chơn chơn hữu bất kiết [kết] THIÊN tài

Ngạo tục vinh thi đề tố hoạt

Đáo Tây Kỳ [Cali] ngạn khiết lời ca

Tây môn viên hạ đằng khải khúc
TIẾT LỘ [CHO] TRẦN hữu phúc muôn dân


[NGẠO = Coi thường. TỤC VINH = Vinh hoa thế tục.  THI ĐỀ = triết minh thi thơ. TỐ HOẠT = thực hiện công việc. ĐÁO TÂY KỲ = Đến Tây Kỳ, ý nói đến Nam Califfornia. KHIẾT LỜI CA = Trang trọng nghiêm túc (ngạn) chạm trỗ (khiết) lời đạo ca. TÂY MÔN VIÊN HẠ  = Tây Viên Môn Hạ, ý nói giáo đồ của Giáo Hội Thiên Trường. ĐẰNG = Sao chép lại. KHẢI KHÚC = Những đoạn đạo ca được khải lộ.]

Phiêu phiêu [bồng bềnh] đàn phím CÀN CUNG [TRỜI] lộ

Xuân Tuất niên thay chí cùng lo

Đoạn [quyết] thiết [sắp bày] HOÀNG khai tề [sửa trị] NHỨT THỐNG

PHẬT ĐƯƠNG HỒNG TRẦN GIẢI THOÁT LINH

Nhân sinh đồng chung đồng tạo nghiệp

DI LẠC PHẬT VƯƠNG TỎA ÁNH HÀO

Nhãn khí phong điền CHIÊU tầm lễ

Chịu ánh vương quang thệ xuất kỳ

KIỀN KIỀN TAM THỂ ĐÀI THIÊN CHỦ
LẠC LẠC THÀNH THÂU PHÁT ĐẠI ÂN.


[KIỀN KIỀN = Quẻ Bát Thuần Càn, Nguyên Khang Hanh Lợi Trinh chi tượng: tượng vạn vật có khởi đầu, lớn lên, toại chí, hóa thành; Giảng Giải: (1) Văn Vương cho rằng bói được quẻ này thì rất tốt, hanh thông, có lợi và tất giữ vững được cho tới lúc cuối cùng; (2) Thoán Truyện cho rằng (a) quẻ này mang ý nghĩa về vũ trụ: Càn gồm sáu hào đều là dương cả, có nghĩa là rất cương kiện (tượng trưng cho trời), Mà Trời thì có đức “nguyên” vì là nguồn gốc của vạn vật, có đức “hanh” vì làm ra mây mưa để cho vạn vật sinh trưởng đến vô cùng, có đức “lợi” và “trinh” vì biến hóa khiến cho vật gì cũng giữ được bẩm tính giữ nguyên khí cho thái hòa (cực hòa); (b)
Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật, theo đạo Càn thì thiên hạ bình an vô sự. TAM THỂ = Thể CHA (thể ĐẤNG TẠO HÓA), thể CHÚA (thể ĐẤNG  CHỦ TỂ), thể THẦY (thể ĐẤNG PHÁP TÔN). ĐÀI THIÊN CHỦ = Chủ của Đài Thiên (Đài Cao trên Bạch Ngọc Cung, là Cao Đài của Chí Tôn ngự triều).]


 


9. THAY THẤT CỔ AN BAN PHÁP ĐIỂN


DI cơ khai XUÂN THU cổ

Phận vai tuồng THIÊN Ý ĐỊNH MỞ

KHAI NHÂN TÂM định hạn vô vi

Hơn mỗi việc rõ trung trinh lộ.

Tạo xác thi thay thế tục y

Thông đạt pháp đồng xứ nam nhi

GIÀ LAM LỘ CỔ ÔNG TRỰC CHỈ

GIÁNG LÂM PHÀM LỊNH BỔN HOÀNG NGHI.

LUẬT CÀN KHÔN VÔ HÌNH Y CHỈ

CHÍ TÔN MINH TÒA LỊNH OAI NGHI

QUÂN XUẤT XỨ MỘT ÂM CỔ BẢN

Chặn tướng xe chốt pháo đầu đi.

Hồi chiến QUỐC ai chi phong bảng

LẬP BỔN QUY CAO ĐỘNG MỞ MANG 

KHẮP TÂY PHƯƠNG HUYỀN LỊNH THIÊN HOÀNG

Khai Mùi vị hồi kỳ chói dạng.

Định chánh khai nhiệm kỳ cố gắng

VẠN LINH THẦN THỤ TÚC TRI ÂN 

PHẬT MỞ LỰC VÔ VI TRẦN THẾ

Tuổi đủ y tối đến tôi chân.

Thương nẻo đời tạm mượn tuồng hề

KHAI LỐI THẲNG GIÁP VÒNG BỐN BỂ

Vạn cảnh trường tối đổ phúc NGHIÊU

Hồi QUỐC thỉ sang Canh MỤC ĐẾ.

 
[TỐI = Cùng tột, rốt cùng. ĐỔ = Thấy cảnh. PHÚC = Lập lại. PHÚC NGHIÊU = Lập lại thời Nghiêu Thuấn. THỈ = Mở đầu. SANG CANH = Sang Canh niên (2020). MỤC ĐẾ = Vị vua lấy con mắt làm biểu tượng, là Huyền Khung Cao Thượng Đế, cũng là Vô Cực Huyền Thiên Thượng Đế.]

 

Thanh bạch nhựt SEN NỒNG THƠM NGÁT

Tái QUỐC dân dấu LẠC ngàn xưa

Nhịp đi lối cũ VỰA cung thừa
TRỮ THẾ, tình tan gió lùa ngõ ngách


[THANH BẠCH NHỰT = Thanh thiên bạch nhựt. SEN NỒNG THƠM NGÁT = Sen đã nở và hương tỏa khắp. TÁI = Trở lại, tái sinh. LẠC = Lạc Hồng và Lạc Long. VỰA = Chỗ để trữ. CUNG THỪA = Kính cẩn vâng lời. TRỮ THẾ, TÌNH TAN GIÓ LÙA NGỎ NGÁCH = ý nói lòng nếu đã chứa cả nhân gian thì tình cảm riêng tư tan biến như gió lùa qua ngỏ ngách.]
  

VÂN DU KHẮP NẺO LẤP NẮNG SƯƠNG,

Lớp diện tuồng HUỲNH [LONG] thương miền thế

[Nên] Tái [sinh], [khổ] nạn tới đây DI thể

PHẬT [VÌ] ĐẠO, [CHỐN] TA BÀ NAM ĐẾ CƠ MÀN.

 

TÒA THÁNH MẪU TÂY ban hạ tất

Nghĩa rạng danh DI bất môn sau

Tự an HUYỀN LẶC vận khương
Tiêu tân thới mạng NHỨT ĐƯƠNG PHỤC KỲ.


[HUYỀN LẶC = Huyền Thiên Di Lặc. LẶC = Chạm khắc. TIÊU = Đánh dấu. KHƯƠNG = Thời hanh thông.]

 

Kiếp tội căn CUỘC HÀNH HƯƠNG LƯỚT

CHỊU BAO ĐIỀU CẢNH, GIÁP THAO LƯỢC

NỔI BUỒN KHAI CAY ĐẮNG SẦU BI, 

KHỐN KHÓ GIẢI TRI ÂN MỆNH CUỘC.

[GIÁP = Thấu suốt. GIẢI = Giải nghiệp.]

 

THAO THỨC CĂN PHẬN, CƠ THIÊN Ý

PHẢI CHỜ TRÔNG QUANG HƯỚNG ÂN TRI, 

TRONG PHONG BA VUI CẢNH CHỈ LÀ 

Y SẮC LỊNH TRẢI BAN THIÊN Ý.

 

Lần gót NGỌC [ĐẾ] mở thức sâu qua

Khai tâm trí trong lành triết dạ

BỔN HỮU VI XEM RÕ NHỮNG GÌ

GIỜ KHOẢNH KHẮC KHÓI ĐÀN LAN TỎA.

 

CHIÊU PHẨM CƠ ĐIỂN HỘI NHIỆM KỲ

Ngẫm tận tường, [kẻ] vạch đâu thối chí

Vượt nắng sương linh liễu CƠ THIÊN

Rồi cũng trả cảnh đau thương [tàn] hủy.

[VẠCH = Kẻ vạch, làm cho rõ ràng đâu ra đó. LINH = Lịnh. LIỄU = Hiểu rõ.]

 

Gió dập sóng biển trần hồ CHUYỂN

MẶT TRỜI MỌC MẤY PHƯƠNG, suy diễn:

PHẬN VÔ VI PHÂN THỂ TẠO RA
THAY THẤT CỔ AN BAN PHÁP ĐIỂN.


[HỒ = cho nên. THẤT CỔ = 7 vị Cổ Phật;
Trong Kinh Ứng Kiếp có nói: “Hỗn độn sơ khai, định ra mười vị Phật chưởng giáo bàn 'Thất Phật Trị Thế, Tam Phật Thâu Viên'. Thất Phật Trị Thế gồm có (1) Xích Ái Phật, (2) Sanh Dục Phật, (3) Giáp Tam Xuân Phật, (4) Dậu Trường Canh Phật, (5) Không Cốc Thần Phật, (6) Long Dã Thị Phật, (7) Kế Thiên Phật. Bảy vị này là Thất Cổ Phật.  Tam Phật Thâu Viên gồm có (8) Nhiên Đăng Cổ Phật, (9) Thích Ca Mâu Ni Phật, (10) Di Lạc Cổ Phật. Thời kỳ Thanh Dương thì chưởng Thiên Bàn là Nhiên Đăng Cổ Phật, chưởng Đạo Bàn là Phục Hy Cổ Phật, khảo Đạo là A Linh Vương, chủ trì mạt hậu thâu viên là Diêu Trì Kim Mẫu xuống thế tên Lão Mẫu. Hồng Dương Kỳ thì chưởng Thiên Bàn là Thích Ca Văn Phật, chưởng Đạo Bàn là Tứ Chánh Văn Phật (tức Khương Thái Công- Khương Tử Nha), khảo Đạo là Thân Công Báo, chủ trì mạt hậu thâu viên là Tây Vương Thánh Mẫu. Bạch Dương Kỳ có thể gọi là mạt kiếp. Bạch Dương Kỳ, chúng sanh tuy rằng đã tích lũy ác nghiệp, có rất nhiều nghiệt chướng, nhưng người thiện cũng có nhiều. Thượng Đế đại từ đại bi, bác ái hết mức, nào nhẫn tâm để thiện ác bất phân minh, ngọc đá cùng thiêu, cho nên lần thứ ba giáng cho Đại Đạo, Nho giáo ứng vận, phổ độ Tam Tào, phái Di Lặc Tổ Sư chưởng Thiên Bàn, Thủy Hỏa hai tinh tử là Tế Công Hoạt Phật và Nguyệt Tuệ Bồ Tát, giáng thế làm Cung Trường Tổ, Tử Huệ Tổ chấp trưởng Đạo bàn. Khảo Đạo là A Tu La Vương, Chủ trì mạt hậu thâu viên là Trung Hoa Thánh Mẫu. Người thành Đạo là 96 ức nguyên nhân, tới dự Long Hoa Đại Hội đồng ghi tên vào “Trùng Chỉnh Thiên Bàn”, hưởng thanh phước và hồng phước 10.800 năm.]

Một ngày mai TUỒNG HAY THUYỀN RA, 

TUYỆT VÔ VI kiếp này phong ba

CHỜ XUẤT TRẬN tư bề phẳng lặng

Chuyến ĐÔNG DU thanh lịch CỜ DÀ.

Hữu ảnh TÂM XEM RÕ ĐẠO TRÀNG [GHTT-CALI]

MỞ CỬA ĐẠO tấn tới trực quang

TẦM GÓC ĐỘ VÀO VÒNG HẠNH PHÚC 

GỞI TRỌN LÒNG THẮM ĐƯỢM ẨN TÀNG.

Lời ca thi đêm nằm lặng giấc

Đếm giấc SAY ĐỊNH GIÁC tri ân

XÂY BỔN TUỒNG HAI CHỮ AN DÂN
XUÔI CẢNH, NGƯỢC THUYỀN, NAN THẾ SỰ.


[GIẤC = Từng khoảng thời gian. LẶNG GIẤC = Khoảng thời gian yên lặng. ĐẾM GIẤC = Đếm từng những khoảng thời gian trôi qua, ý nói trăn trở mãi không ngũ được.]

 

Chẳng mau lâu xây chầu nhiều tử

Trông bốn góc đêm thâu hồi rụng

RÕ XEM THÂN CHIẾU ĐIỂN OAI THẦN 

GIÚP CHÁNH PHÁP TIẾN DẦN BỨC PHÁ.

 

Lộng Đài Liên phía cảnh xa xa

GIẢI TRÌNH THƠ CHƯƠNG TÒA THIÊN CẢNH

PHÁP BẢO KHAI HẠN SẮP [TỚI] THUYỀN [ĐẠO] ĐĂNG [QUANG

ĐỢI VÔ VI GÌN CĂN BỒN THỂ. 

 

Sóng Ta Bà BIỂN rộng dựa kề

ÁNH BAN MAI DIỆU THỂ ĐÁO KHAI

Luồng nhiệt thể đêm này khí khái

THỂ VÔ HÌNH khuyến, giải, định, tuyền

 
[BIỂN = HẢI; Các chữ tương cận HẢI, XUYÊN, GIANG, HỒ, HÀ
và các chữ tương cận SEN, LIÊN, HẠ đều được Thiên Thượng mượn để ám chỉ ông HÀ [Đức Ngài]. ÁNH BAN MAI = chỉ trời đã sáng, ý nói MINH THIÊN. DIỆU THỂ = Linh thể.  ĐÁO = Trở lại. KHAI = Làm cho thông. KHUYẾN = Khích lệ. GIẢI = Làm rõ. ĐỊNH = Làm yên. TUYỀN = quay lại.]

BAO PHEN GÓT TÀNG ẨN, CANH NIÊN [2020]

CHỜ THẠNH THỚI xuất điền GIANG [HÀ] xuất

Ý LỊNH THIÊN CỔ TRUYỀN THÂU DỨT

Lượt HẢI HÀ năng BỰC SIÊU NHIÊN

Xuân Thu Đông RA KHƠI BẢN DIỄN.

 

 
10. LÂM TRUYỀN TÁI KHỞI VÔ HUYỀN LẠC THIÊN


Nhơn lòng thực diện Đông hàn

DI LÃO vạn ngự phùng xuân hữu thời

Thuyết cơ nguyên uyển tàn hơi
ÂM DƯƠNG LÝ LẬP THẾ ĐỜI ĐẠO AN


[DI LÃO VẠN NGỰ PHÙNG XUÂN HỮU THỜI = Di Lão ngự vạn xuân phùng hữu thời, ý nói: Di Lão cai quản từ thuở xa xưa nay đến lúc. NGUYÊN = Nguyên nguyên, bách tính trăm họ. UYỂN = buổi chiều. THUYẾT CƠ NGUYÊN UYỂN TÀN HƠI = Thuyết cơ bách tính về chiều tàn hơi.]

 

TRÊN CAO GƯƠNG SÁNG rõ ràng

ĐÀI MINH NGUYỆT CẢNH lộ thăng hóa TRƯỜNG

THIÊN sanh tụ khán CHỦ phương

Như KIM nhơn phó tựu khương xuân phùng

 

NHƠN LAI phú quới NHƠN TRUNG

ĐỨC MÔN chi sự CẢNH phùng NHƠN DUYÊN

Trực HẢI tiêu tức SÔNG điền
Đa chi thế sự NHƠN QUYỀN KẾ VAI


[PHÚ = Trời ban.  QUỚI NHƠN = Quí nhân.  TIÊU TỨC = Thịnh suy, biến hóa, yên nghĩ (sau chiến tranh) phục hồi nguyên khí. Hào thứ 6 của quẻ Càn là TỨC. Hào thứ 6 của KHôn là TIÊU. Càn chủ dương, Khôn chủ âm. Dương thăng thì vạn vật sinh sôi nẩy nở gọi là TỨC. Âm giáng thì vạn vật diệt gọi là TIÊU. TIÊU TỨC = còn là ảo diệu, chân đế. "Hình hài thổ mộc tâm vô nại, tự trung tiêu tức thùy năng giải." (Vô Danh Thị). HẢI = cười ngạo.  HẢI = là biển, là con sông do biển lấn vào, tương cận với chữ HÀ. SÔNG ĐIỀN = tương cận với chữ Non Sông hoặc Đất Nước. SÔNG ĐIỀN = Bản thân ông Hà. TRỰC HẢI TIÊU TỨC SÔNG ĐIỀN, ĐA CHI THẾ SỰ NHƠN QUYỀN KẾ VAI = ý nói: Nực cười cuộc diện non sông, Đa mang chi sự quyền công ai cầm. Một ý khác, TRỰC HẢI TIÊU TỨC, SÔNG ĐIỀN ĐA CHI THẾ SỰ NHƠN QUYỀN KẾ VAI = Trong biển thịnh suy trùng trùng, bản thân ông Hà lo chi chuyện nhơn quyền ai nắm.] 

 

TÙNG sanh GIÁP phỉ TRÍ TÀI
[VI] SÔNG [HÀ] thuyết NGẠN ĐÁO LAI CHI HÀI

Vũ nguyên MỘC hữu chi giai
ĐẮC THỜI LAI VĨ HUÊ KHAI NHỨT TIỀN.


[TÙNG SANH = Nếu hai chữ này lấy ra từ trong thành ngữ "Thảo Mộc Tùng Sanh" thì nó có nghĩa là "Cây cỏ tụ tập sinh sôi." Nhưng nếu là TÙNG SANH GIÁP ... MỘC thì ý của nó có thể là (1) Cội Tùng sanh năm thiên can GIÁP ngũ hành MỘC, hoặc (2) Thuận theo tái sanh năm thiên can GIÁP hành MỘC. PHỈ TRÍ TÀI = Không chỉ là trí tài. THUYẾT [BỈ] NGẠN ĐÁO LAI CHI HÀI = Bước xưa trở lại đưa người qua sông. VŨ NGUYÊN = Vũ trụ khai nguyên. MỘC = chiết tự là NHÂN THẬP. GIAI = cùng một lượt với nhau. VŨ NGUYÊN MỘC HỮU CHI GIAI = NHÂN THẬP có từ thuở khai nguyên vũ trụ. ĐẮC THỜI VĨ HUÊ KHAI NHỨT TIỀN = Đến lúc đình tiền nhứt vĩ huê khai (Đến lúc một đóa hoa đẹp nở trước sân).]

 

Thu đến HOA đông thanh CHIÊN

LÂM TRUYỀN TÁI KHỞI VÔ HUYỀN LẠC THIÊN.

 
[CHIÊN = Hiểu theo ý TINH CHIÊN thì nó có nghĩa là lá cờ có tua chung quanh; Như trong câu thơ của Lý Bạch "Biệt mộng nhiễu tinh chiên" (Giấc mơ lúc chia tay còn quấn quýt trên những lá cờ có tua). Hiểu theo ý CON CHIÊN, Giáo dân của Thầy Nhân Thập, thì THU [HOẠCH] ĐẾN HOA [KỲ] ĐÔNG THANH CHIÊN sẽ có nghĩa là: Đến mùa thu hoạch, HOA [KỲ] sẽ ĐÔNG đúc con CHIÊN mới. VÔ HUYỀN LẠC THIÊN = Vô Cực Huyền Thiên Di Lạc.]

HUYỀN lâm [nhìn] tiên cảnh một bầu không

Tựa [nương theo, in như] nguyệt tròn về cảnh Lai Bồng

Ngoạn [thưởng thức] nhô [lên] tạo hóa dành một cảnh

Một bầu hư không mây xanh trong.

Thú dư phang cảnh canh khuya lạnh

GIẢI QUẢ QUA SÔNG ngàn dậm thành

Chốn thời cao thẳm THIÊN ĐƯỜNG SÁNG
ẨN PHÀM HUYỀN diệu nguyệt thành HOÀNG.


[THÚ = Ý vị.  DƯ = Nương theo. PHANG = Du thuyền; như trong thơ Bạch Cư Dị "Đông chu tây phảng tiễu vô ngôn, Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch." (Dịch là: Những con thuyền bên đông bên tây lặng lẽ không nói, Chỉ thấy giữa lòng sông trăng thu trắng xóa).  THÚ DƯ PHANG CẢNH CANH KHUYA LẠNH = Ý theo cảnh thuyền du trên sông đêm lạnh. CHỐN = Không gian. THỜI = Thời gian.  CHỐN THỜI CAO THẲM = Thời Không cao thẳm, thời không vô hạn vô biên. CHỐN THỜI CAO THẲM THIÊN ĐƯỜNG SÁNG = Cõi thời không vô hạn vô biên có Thiên Đường rực sáng. ẨN PHÀM HUYỀN DIỆU = Huyền diệu núp sau cái phàm tục. NGUYỆT THÀNH HOÀNG = Trăng hóa ngập ánh vàng. ẨN PHÀM HUYỀN DIỆU NGUYỆT THÀNH HOÀNG = Ý thứ nhứt: "huyền diệu chứa đầy trong sắc tục, trăng hóa ánh vàng chiếu muôn nơi." và, ý thứ hai: " Huyền Hoàng ẩn phàm thành diệu nguyệt."]

HUYỀN CƠ rẽ [vạch kẻ] chữ Phương Nam THÁNH

CHƯA ĐỊNH CHƯA PHÂN trở cơ đành

RÁN NHÌN GỐC CỘI chừng năm hỉ

MÁY TẠO ĐỔI XOAY CHẲNG ĐẶNG LÀNH.

NGŨ HÀNH NĂM VỊ suy xét kỹ

Cả tiếng gọi vang PHẬT A DI

Sáu trăng chớp nhoáng chi thời tạo

Trông thấy bốn bề xác phơi chi.

 

 
11. TÂN CẢI CÁCH GIÁO TRUYỀN THIÊN ĐẠO


ĐỨC THIÊN HOÀNG HẠ ĐỀ KHÁN CAO

TÂN CẢI CÁCH GIÁO TRUYỀN THIÊN ĐẠO

THẠNH HÒA BÌNH PHẬT ĐẠO NGHÌN THU

An LẠC hóa cảnh trần DI bảo.

Thời Giả CHÚA ĐẾ thành tằng phu

Đất Hồ rũ rạng danh ngay tự

Một góc trời Thời Giả Chúa Tôi
Nguồn cơn ấy xanh xao phương xử.


[THỜI GIẢ = Người của thời vận; ở đây là nói người mà số phận gắn chặt với thiên thời. TẰNG = Tầng lớp. PHU = Người bị bắt, lao công nô dịch. THÀNH TẰNG PHU = Biến thành giai cấp tù binh, lao nô. PHƯƠNG = đất, nơi chốn. XỬ = XỨ = Ở, nơi chốn.]

THIÊN ĐƯỜNG SÁNG LÀM NỀN HỆ BỞI

NẮM MỘT THÂU NẺO CHẲNG ĐI ĐÔI

Nay thấm thoát đất trời lắm đoạn

Cảnh đấy người đây BIẾT ĐẤT TRỜI.

Đói đau than khóc lần phải rán

Sái tiết mùa đói khát cơ hàn

Âm binh thảy rần rần rộ rộ

Mới đến trần nên tạm lệ chan.

Ra tay độ cho thế chi mô

[Cần] Chi tôm cá cầu bần lao khổ

Vắn [tắt] ít lời ai muốn thời nghe

Đây phân cạn xin đừng quên đó.

Xem gốc cội sửa thân tốt dễ

Quên tổ tông rất khổ thảm thê

Tài sắc lụy thân mình tận tuyệt

Ai tỉnh thức mau quay kẻo trễ.

Nhìn đời thương giải thoát nay mai

Chiều sắp lụn nói ra nghe phải

Lắm chuyện sầu khắp cả Đông Tây

Chan giọt lụy cất chôn để lại.

TÔI trung CHÚA rừng xa có hay

QUAN CÔNG ra một trận kỳ tài

Ngày mai không biết thưa với thớt

NƯỚC MẮT RƯNG TRÒNG TỪNG NẠN TAI.

THUYỀN CÒN ĐẬU sao vui đùa cợt

QUAN ĐẾ QUÂN đao trảm bất chợt

CHÚA CỦA MÌNH dĩ định lo âu

NGÀI TÁI THẾ [đâu phải] khải hoàn [mà] ca hót.

Đoạn dinh quanh cảnh dạ thảm thương

Trách sự tu qui nhân hạnh tại

TIÊN CƠ ngôn tự ĐOẠN xuất TRƯỜNG
Lộ lộ LÂM nguyệt XỨ QUÂN TÂY


[Khoán 1: Tiên cơ đoạn trường. Khoán 2: Quân lâm xứ Tây. Câu chót nên hiểu là: Lộ lộ nguyệt Quân lâm xứ Tây. Hay: Sáng một vầng trăng, CHÚA đến xứ Tây Phương.]

Phi phi kim [nay] thật vui vẻ hưởng

Bất bất như y nhứt nhứt khai

Tâm địa địa hảo toàn thạnh vượng

Quy quy tát tát LUÂN CHUYỂN tái

Danh phú TỰ CÔNG sáng soi hướng

Hữu phận nghê,  SƠN trải hồi khai

Tợ LONG Nam Bắc BỬU HUỲNH khương
Tầm chi tảo sự ngày đêm thấy


[Khoán: Bửu Sơn Huỳnh Long. DANH PHÚ = Danh hiệu Trời ban. TỰ CÔNG = Thập Tự Công, Đức Chúa, Ngôi Hai. 
HỮU PHẬN NGHÊ = Có duyên phận là sư tử (dũng mãnh thuyết giáo). SƠN = LINH SƠN = Núi Linh Thứu. TRẢI HỒI KHAI = Đã có lúc từng mở khai đạo pháp. TỢ LONG = Tợ như Rồng, ý nói "thấy đầu không thấy đuôi".]

Thu Đông LẠC tự đi chiều hướng

Hạ mục giai kỳ THẤY CHẲNG SAI

VÔ CẢNH ĐA NIÊN KHAI ĐƯỜNG HƯỚNG
CAO KHỞI THIÊN MINH Ý PHƯƠNG TÂY [CALI]


[ĐI = DI. VÔ CẢNH = Cảnh KHÔNG. VÔ CẢNH ĐA NIÊN KHAI ĐƯỜNG HƯỚNG = Nhiều năm khai đường hướng VÔ VI. CAO KHỞI THIÊN MINH Ý PHƯƠNG TÂY = Cao Thiên minh ý khởi phương Tây, hay: Ý của Ông Trời khai mở bên Tây Phương.]

THIÊN THƯỢNG HÀO BỔN dựng buồm trượng

CAO cao hữu CHỦ KHUNG HUYỀN thoái

Ngoạt ngoạt phóng hoa PHÁ BỨC TƯỜNG
KHÔNG KHÔNG quới cát đợi ngày mai


[HÀO = Hào quang. HÀO BỔN = Bổn hào quang, bổn áng sáng. HOA = Hoa quang, vầng sáng mặt trăng hay mặt trời. PHÓNG = Khai phóng. PHÁ BỨC TƯỜNG KHÔNG KHÔNG = Phá bức tường vô minh. QUỚI = Quí, quí hiển. CÁT = Tốt lành, cát tường.]

Xuân phong thị BỬU THIÊN THIÊN THƯỢNG

QUÂN HẬU chi đa, xứ HẬU lai

LOAN phùng MÔN HỘ hồi MINH THƯỢNG
Lân HỒNG HẠ bắc NGỌC MINH ĐÀI.


[XUÂN PHONG = Gió mát; Thơ cụ Trạng viết: "Lòng thử hỏi lòng không hổ thẹn, Đến đâu thì cũng có xuân phong". XUÂN PHONG THỊ BỬU THIÊN THIÊN THƯỢNG = Làn gió mát lòng này đích thị là Bửu Thiên của Thiên Thượng. QUÂN HẬU CHI ĐA = Là Quân Hậu đó đa.  XỨ HẬU LAI LOAN PHÙNG MÔN HỘ HỒI MINH THƯỢNG = Nơi Hậu đến [là] "Loan gặp môn hộ [để] đưa về với Cao Thiên". LÂN = Cận, gần kề. HẠ = Liên, Sen. HỒNG HẠ = Hồng Liên. BẮC = Bắc cầu, bắc thang. LÂN HỒNG HẠ BẮC NGỌC MINH ĐÀI = Lân cận [để] Hồng Liên bắc thang lên Ngọc Minh Đài.]



12. HƯ KHÔNG THÔNG ĐIỆP:
PHẬT TIÊN LIÊN ĐÀI HỒI KHAI CHÁNH BỔN


MINH HOÀNG CÔNG LẬP

Dư cách nhạn thơ

Xa bờ một lỗ

XƯA TỔ PHỤ SANH
CƠ THÀNH ĐỨC DIỆU
Mầu diệu thâm sâu


[DƯ = địa dư. CÁCH = cách biệt, xa xôi. NHẠN THƠ = Tin nhạn; chữ này xuất xứ từ điển tích Tô Vũ bị đày phải buộc thư vào chân chim nhạn để nhắn tin về cho vua Hán nên có chữ "nhạn tín" (雁信) tức "tin nhạn", còn chữ "nhạn bạch" (雁帛) nghĩa là “thư tín”.  MỘT LỖ = Một cái mái chèo.  XƯA TỔ PHỤ SANH = Tổ Phụ xưa tái sanh.]

 

MONG CẦU NỀN ĐẠO

DI hảo báo ĐỀN

Nhanh nhẹn XÂY

ĐÀN CƠ TRÙNG MẬT
TIÊN PHẬT THƯỢNG KHAI

[Khoán: Mong Cầu Nền đạo [thì] Di [Lạc] hảo báo: Nhanh Nhẹn Xây Đền, Trùng Mật Đàn, Cơ Tiên Phật Thượng Khai.]

Khoan thai khôi ngộ
Sánh cổ tầm gương

Ngộ thường bách bách
HOÀNG cách gom thâu


[KHOAN THAI = Phong cách khoan thai. KHÔI NGỘ = Sắc tướng cao lớn khôi vĩ. NGỘ THƯỜNG = Thường ngộ, luôn sáng tỏ. BÁC BÁCH = Bá gia trăm họ. HOÀNG = Minh Hoàng. CÁCH = Ôm vào vòng tay.]


Ân sâu cổ dĩ

Duyên thị xuyên tâm

Phá lâm cột trủy
Thất đử hư văn
Câu thẳng bốn chữ

Niên thu ĐẠO PHÁP

HUỆ PHÁP ĐIỂN THANH

Đáp thành thượng mút

OAI LỰC PHƯƠNG TÂY
SƠN ĐÀI KỲ HIỆP


[NIÊN = Năm, quanh năm. THU = Gom thâu. THANH = Âm thanh, lời nói. THƯỢNG = Quảng đại. PHƯƠNG TÂY = ý nói toàn thể Phương Tây nhưng điểm khởi đầu hiện nay là California.]

Phong tiệp [nhanh] bản thi

VÔ VI CHI ĐÁO

HOÀNG BẢO TRIỀU AN

Cơ man cơ điển

LỊNH CHIẾN VÔ HÌNH

KHAI BINH NGUỒN SÁNG

LÒNG THẢN NHIÊN THÂN

BẬC QUÂN BỔN KIẾP

CHỐT NHIẾP CĂN LAI

XÁC HÀI GIẢI CUỘC

KÍCH THƯỚC NGOÀI TRONG

HƯ KHÔNG THÔNG ĐIỆP

PHẬT TIÊN LIÊN ĐÀI

HỒI LAI CHÁNH BỔN


CỬA KHỔNG THƯỢNG

CAO XA GIAI BẤT

CHÁNH CẬP TRUNG CHI

TRIỀU NGHI XỬ HỮU

CHUNG TỰ CẠNH LƯ
ỨNG NHƯ LAI HẦU.


[BẤT = Bất khả nghị. CAO XA GIAI BẤT = Cao xa không thể nghĩ bàn. CẬP = Cùng chung. ỨNG NHƯ LAI HẦU = ý nói "Ứng Hầu Như Lai".]

 

  
13. TA RA MẬT ĐA BÁ ỨC HÓA THÂN


ĐỜI dữ [và] ĐẠO một câu pháp kệ

Lời thơ trần len lỏi chốn mê

ĐẠO TƯ BI BỜ GIÁC QUAY VỀ

TRẦN KHÔNG BỢN TU HỌC BỒ ĐỀ

 

Qua ba đường sáu nẻo đi qua

AI ĐẾN ĐƯỢC CUNG TÒA YÊN HÓA

NGÔI PHÁP NGHE PHƯỚC TRÍ VÔ BIÊN,
LỜI PHẬT DẠY. PHÁP THÂN ĐÁP :


[YÊN = YẾN, ánh sáng.  CUNG TÒA YÊN HÓA = Cung Tòa do ánh sáng hóa ra. NGÔI PHÁP NGHE PHƯỚC TRÍ VÔ BIÊN = (1) NGÔI PHÁP được NGHE thì được PHƯỚC TRÍ VÔ BIÊN, và (2) NGHE được NGÔI PHÁP thì đó đã là bậc PHƯỚC TRÍ VÔ BIÊN. NGÔI PHÁP NGHE PHƯỚC TRÍ VÔ BIÊN LỜI PHẬT DẠY = Phước trí vô biên nơi Ngôi Pháp Tòa nghe lời Phật dạy. ĐÁP = Ứng đối. PHÁP THÂN ĐÁP HÀ = Pháp thân HÀ đáp, pháp thân HÀ (Đức Ngài) ứng đối (tức lưu xuất đoạn Đà La Ni và bài giảng bên dưới). Chữ ĐÁP còn đồng nghĩa với chữ THIỂM nghĩa của nó là: Thè lưỡi ra liếm, theo thuật ngữ Phật Giáo là: "phóng tướng lưỡi dài rộng trùm khắp tam giới".]

 

Yết Rị Ra Ma Ha Đát Ta

Đát Ra Nành Yết Đa Cu Ra

Tất Nễ Ra Rị Đa A Dá

Băng Tát Yết Rị Đa Xà Bà

 

Tát Bà Tì Tát Bà Ca Na

Tát Từ Tát Ghi Bát Tát Ra

Bà Ha Sắc Đế Kê Đệ Thính

Từng Đà Ra Ca Đát Tát Cớ Đa.

 

KHÔNG: vô sắc [...] thức, vô nhãn [...]

Vô vô minh [...] đẳng đẳng chú [,] năng [...]

Vô thượng chú [không] pháp, vô nhãn giới [...]
Ta Ra Mật Đa bá ức hóa thân.


[VÔ SẮC...THỨC = Vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức = Chẳng 5 Uẩn. VÔ NHÃN... = Vô nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý = Chẳng 6 Căn. VÔ ĐẲNG ĐẲNG = Chữ Sankrit là Asamasama = Vô song, không gì sánh bằng. ĐẲNG ĐẲNG = Chữ Sankrit là Samasama = Như nhau.  NĂNG ... = Năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.  VÔ VÔ MINH... VÔ
ĐẲNG ĐẲNG CHÚ NĂNG... VÔ THƯỢNG CHÚ PHÁP Chẳng có vô minh ... là thần chú vô song luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối, là không pháp vô thượng chú; Cụm chữ này tóm tắt một đoạn dài của kinh Bát Nhã "Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư." Dịch là "Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc. Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác. Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối...".  VÔ NHÃN GIỚI... = Chẳng nhãn giới... cho tới ý thức giới ("vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới"). TA RA (tārā) = ĐA LA = (1) Vượt qua (từ gốc chữ Phạn TRI-ĐA (tṛ) có nghĩa là vượt qua); (2) Tinh tú đang di chuyển; (3) Người giải phóng, người cứu tinh; và (4) danh hiệu của Phật Mẫu Lục Độ. MẬT ĐA = BA LA MẬT ĐA = Chữ Sankrit là Paramita = đáo bỉ ngạn (param = bỉ ngạn; ita = đến), độ vô cực, diệu trí độ. BÁ = Trăm. ỨC = Trăm ngàn. TA RA MẬT ĐA BÁ ỨC HÓA THÂN = Nghĩa (1) Vượt qua, đáo bỉ ngạn, vô số hóa thân; (2) Như tinh tú di chuyển trong bầu trời, độ vô cực, vô số hóa thân; (3) Đấng Cứu Tinh, diệu trí độ, vô số hoá thân. Đoạn trên có thể tóm lược như sau: KHÔNG: chẳng 5 uẩn, chẳng 6 căn, chẳng 6 trần, chẳng 6 thức, 18 giới đều không, chẳng vô minh cũng chẳng hết vô minh, cho tới chẳng đắc chẳng sở đắc, là thần chú vô song, là KHÔNG PHÁP vô thượng chú, TA RA MẬT ĐA BÁ ỨC HÓA THÂN (tựa như câu tán thán:  Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha!).]

[Chú thích thêm về TA RA (Lục Độ Phật Mẫu, Lục Độ Mẹ Chư Phật, Cứu Độ Mẫu, Đa La Tôn Quán Âm, Đa La Quán Thế Âm). Có câu thần chú về ngài như sau: Om (thực tại tối thượng) Tare (đấng dũng mãnh cứu độ thế gian), Tutare (đấng hộ trì giải trừ mọi chướng ngại và sợ hãi) Ture (đấng giải thoát giúp thành toàn mọi tâm nguyện) Soha (Lành thay!/ Viên mãn thay!/Ân phước rưới xuống vô cùng tận!). Tám chướng ngại (phát sinh ra mọi hướng ngại) là: (1) thiếu hiểu biết, (2) chấp trước, (3) tức giận, (4) kiêu căng, (5) ghen tuông, (6) đau khổ (do 3 yếu tố tham lam, hận thù, ảo tưởng gây ra), (7) nghi ngờ (hoài nghi) và (8) những quan điểm không đúng (tà kiến).]


VÔ: Tăng, Phật tận kiến VÔ, HỮU

TỊNH TIỆT VÔ như THÂN BỔN SƯ

KHÔNG: vô sắc, bất sinh bất diệt
VÔ: diệc phùng CHÍ VÔ LÃO dư.


[TỊNH TIỆT VÔ = Trong bộ Đại Bát Nhã, Tập Ưng Phẩm, Phẩm 3, Quyển 1, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, Đức Thế Tôn đã nói 7 KHÔNG với ngài Xá Lợi Phất gồm có: TÁNH KHÔNG (Không của bản tánh), TƯỚNG KHÔNG (Không của tự tướng), CHƯ PHÁP KHÔNG (Không của vạn hữu), VÔ SỞ ĐẮC KHÔNG (Không của cái không thể đắc), VÔ VI PHÁP KHÔNG (Không của các pháp vô vi), HỮU VI PHÁP KHÔNG (Không của các pháp hữu vi), VÔ PHÁP HỮU PHÁP KHÔNG (Không của tất cả các pháp). DIỆC = Chẳng qua là, cũng chỉ là. PHÙNG = Gặp gỡ.  DƯ = Ta.  CHÍ VÔ LÃO DƯ = Chí Tôn Vô Cực Lão Ta.]


SẮC bất dị KHÔNG

KHÔNG bất dị SẮC

VÔ THƯỢNG VÔ TẬP

TÂY PHƯƠNG CHƯ PHẬT
VÔ TẬN TRÍ BỰC


[VÔ THƯỢNG = Trên hơn hết. VÔ TẬP = Sáng hơn hết (chữ Tập bộ Hỏa). VÔ TẬN TRÍ BỰC = Bậc trí huệ vô ngằn mé.]

Xem nghe TẬN THẤY

Thân an cảnh đài

Trước Phật đồng thành

Thanh tịnh trong cảnh

Tây Phương Cực Lạc

Tương lai ÂU LẠC

Tụ hội hư không

Chính giữa hư không

Mọi loài hạnh phúc

Nhu hòa trung trực

An định con đường

Đem lại tình thương

SỐNG CHƠN HẠNH PHÚC

Vô thượng tùy túc

Châu báu pháp đưa

Y khéo Tam Thừa

[Thiện] Thệ hiển Thiên Giới

Đoạn diệt sanh khởi

TỪ MẪN lắng nghe

HOA mầu BỒ ĐỀ

An lành tất cả

NGỌC HOÀNG ÂN XÁ

Rửa sạch lòng trần

Chi đêm đã gần

Đời đề tỉnh thức

THIÊN MINH CAO BẬC

Thế giới chúng sanh

Mong muốn lời lành

Khôn ngoan trong suốt

Đoạn tận thao lược

TẠI PHÀM ĐỜI NÀY

TRÊN CÕI ĐẤT NÀY

ĐƯA PHÁP THUYẾT GIẢNG

VỊ THỂ THÁNH QUANG
THẬT SỰ [LIỄU NGỘ] THÁNH ĐẾ

THỂ NHẬP [ĐƯỢC] DIỆU ĐỀ

TỤC [ĐẾ] không bất tử

THIÊN GIỚI BI TỪ

HÓA ĐỘ CHÚNG SANH

GIỮ ĐẠO LÀM LÀNH

PHẬT TỪ [BI] GIA HỘ

Hạnh phúc giác ngộ

Tâm đắc thọ trì

Một lần gìn y

Hướng về Phật pháp

LÒNG TỪ HÒA HỢP

Tu tập hằng ngày

Lời châu thất này

Tinh hoa hột Pháp

Giai dĩ, 

Khả khả lượng phong tuyệt phi thanh

Nan sự PHƯỚC HUỆ chiêu PHẨM HẠNH

Kim diệu qui hồi HOÀNG hồng giải
Nguyện tam thế thế dĩ thữ thành.


[GIAI DĨ = Đều do. CHIÊU = Chiếu, làm sáng tỏ, dẫn tới. KHẢ KHẢ LƯỢNG PHONG = Phải chăng ý na ná với câu "Hư không khả lượng, phong khả hệ, vô năng tận thuyết Phật công đức." trong bài Tán Phật của Nghi Thức Lăng Nghiêm Thập Chú với ý nghĩa là: Hư không có thể lường, gió có thể cột, nhưng không thể nói hết công đức Phật?? Nếu là vậy thì KHẢ KHẢ LƯỢNG PHONG TUYỆT PHI THANH có thể sắp xếp lại là [HƯ KHÔNG] KHẢ LƯỢNG, PHONG KHẢ TUYỆT PHI THANH, có thể giải nghĩa là: [Hư không] có thể lường, gió có thể tuyệt nhiên không âm thanh. NAN SỰ PHƯỚC HUỆ CHIÊU PHẨM HẠNH = Sự khó là làm sáng tỏ phẩm hạnh phước huệ của [một ai đó]. KHẢ KHẢ = Cây dừa. LƯỢNG = Hóng gió.  KHẢ KHẢ LƯỢNG PHONG TUYỆT PHI THANH = Cây dừa hóng gió thì tất nhiên phải phát ra âm thanh??? NAN SỰ = Việc khó. NAN SỰ PHƯỚC HUỆ CHIÊU PHẨM HẠNH = Cái khó là phước huệ dẫn tới phẩm hạnh. HỒNG = Rộng lớn. NGUYỆN = "Phổ nguyện pháp giới chư chúng sinh, tốc vãng vô lượng quang Phật sát, nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não, nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu, phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,  thế thế thường hành Bồ-tát đạo, nguyện sinh Tây Phương Tịnh Độ trung, cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh, bất thối Bồ Tát vi bạn lữ, nguyện dĩ thử công đức, phổ cập ư nhất thiết, ngã đẳng dữ chúng sinh, giai cộng thành Phật đạo." (như trong bài Hồi Hướng của Phật Giáo). TAM = là TAM THẾ GIỚI (t
hử thế giới, tha thế giới,  ô lượng thế giới); hay là TAM QUỐC ĐỘ (thử quốc độ, tha quốc độ, vô lượng quốc độ); hoặc là TAM THẾ (đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai). THẾ THẾ = thế xuất thế gian. DĨ THỮ   = đem (lời hồng giải của Ngọc Hoàng). THÀNH = thành tựu (như trong bài Thánh-Vịnh lễ Mông Sơn Thí Thực của Phật Giáo có các câu "Thử thế giới, tha thế giới, vô lượng thế giới. Thử quốc độ, tha quốc độ, vô lượng quốc độ. Thế xuất thế gian, tùy nguyện sở thành...".]
 

 
14. ĐIỂN LAI VÔ BIỆT GIẢI MA HA


Đàn thơ cửa ngỏ NGƯỜI HỮU TÚC

NHẬP PHÁP hồi lai ĐỘ kỳ KHAI

CHIÊU phẩm nan qui sơn đài lạnh,
Chuông ngân vang tỏa Xuân Thu BẬC.


[ĐÀN THƠ CỬA NGỎ NGƯỜI HỮU TÚC [DUYÊN] = Cửa thi đàn, nhắn lời gởi người có đủ duyên (nhắn gởi Đức Ngài).  NHẬP PHÁP HỒI LAI ĐỘ KỲ KHAI = Tái sinh để độ khai dẫn nhơn sanh vào Pháp. CHIÊU = sáng tỏ, đồng thời ám chỉ Đức Ngài Ngô Minh Chiêu. PHẨM = Đức hạnh. CHIÊU PHẨM NAN QUI SƠN ĐÀI LẠNH, CHUÔNG NGÂN VANG TỎA XUÂN THU =
Đức hạnh sáng tỏ khó mà lên núi qui ẩn ngày ngày bái lạy cái bàn thờ lạnh lẽo, Chuông này phải ngân vang lan tỏa bất tận (suốt xuân thu).]  
 

[BẬC] CHÍN PHẨM LIÊN HOA MỞ CUỘC TRƯỜNG,

Ngắm xem xuất Kỷ [hết 2019] KHAI MÔN TỰ,

Khoảnh khắc khó tường THƯỢNG HÀ phi,

Chắc tầm mở cửa trong giờ Tí.

 

BỐN VÁCH SƠN KIÊN NGOÀI TRONG DỰNG

Ào ạt linh quang MỚI RA TƯỜNG

Nắng [HẠ, HÀ] bóng lẻ PHONG LÔI hóa
CHẤP CHỈ LIÊN KHAI KHỞI TẠO THÀNH.


[BỐN BỨC SƠN KIÊN NGOÀI TRONG DỰNG = (1) Bốn núi ngoài trong kiên cố dựng, là chiết tự của chữ ĐIỀN 田, ý nói bản thân; (2) Câu này tương cận với câu thứ nhì trong bài chiết tự nổi tiếng: "Lưỡng nhật bình đầu nhật (hai chữ NHẬT 日 ghép nối tiếp), Tứ sơn điên đảo sơn (bốn chữ SƠN 山 chụm đầu lại với nhau), Lưỡng vương tranh nhất quốc (hai chữ VƯƠNG 王 xếp vuông góc), Tứ khẩu tung hoành gian (bốn chữ KHẨU (口) ghép ngang, dọc). BỐN VÁCH SƠN KIÊN NGOÀI TRONG DỰNG, ÀO ẠT LINH QUANG MỚI RA TƯỜNG = (1) Ý nói bổn thân "ào ạt linh quang" mới ra khỏi 4 bức tường; (2) Hai câu này cũng ám chỉ câu "phá điền thiên tử xuất" trong Sấm Trạng vì chữ ĐIỀN cũng là chữ VƯƠNG  nằm bên trong 4 vách tường của chữ Vi 口 {Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi từng ứng đối với quan lại Trung Hoa với câu "Tù  NHÂN  xuất VƯƠNG  lai thành QUỐC 8D0bBmxfa55q0AAAAASUVORK5CYII= (chữ TÙ bỏ ra chữ NHÂN rồi bỏ vào chữ VƯƠNG thành chữ QUỐC), chữ Quốc mà có chữ Vương bên trong mới là chữ Quốc của một quốc gia thiên định.}; (3) Hai chữ PHÁ ĐIỀN có nhiều nghĩa, (a) phá hai bức vách phải trái của chữ ĐIỀN thì còn lại chữ VƯƠNG, (b) CHỮ VƯƠNG bên trong chữ QUỐC mà zoom lớn lên cho chạm vào chữ VI thì thành chữ ĐIỀN, và ngược lại chữ VƯƠNG bên trong chữ ĐIỀN mà zoom nhỏ lại thì thành chữ QUỐC, do đó phá 2 vách chữ ĐIỀN hay phá 4 vách chữ QUỐC thì đều còn lại chữ VƯƠNG như nhau, (c) quan trọng hơn cả hai chữ Phá Điền có nghĩa sự "đột phá của bản thân" trong nghĩa đời hoặc "giác ngộ" trong nghĩa đạo pháp
. HÈ = HẠ = HÀ.  NẮNG HÈ BÓNG LẺ = Ý nói HÀ [Đức Ngài] một thân một mình. PHONG LÔI = Quẻ Phong Lôi Ích; Thoán từ: Ích là: lợi hữu du vãng, lợi thiệp đại xuyên, dịch: Tăng lên: tiến lên thì lợi làm (làm việc ích) thì lợi, qua sông lớn thì lợi (có gian nan nguy hiểm gì cũng vượt được); Giảng: Quẻ này trái với quẻ Tổn. Ngoại quái vốn là Càn, bớt một hào dương, thành quẻ Tốn; nội quái vốn là quẻ Khôn, được một hào dương quẻ Càn thêm vào, thành quẻ Chấn. Vậy là bớt ở trên thêm (ích) cho dưới; còn quẻ Tốn là bớt ở dưới thêm (ích) cho trên. Xét về tượng quẻ thì sấm (Chấn) với gió (Tốn) giúp ích cho nhau vì gió mạnh thì tiếng sấm đi xa, mà sấm lớn thì gió mới dữ. Vì vậy gọi là quẻ Ích. Mình ở địa vị cao mà giúp cho người ở thấp, càng làm càng có lợi, khó khăn gì rồi kết quả cũng tốt. CHẤP CHỈ = Chấp hành sắc chỉ (của Thiên Hoàng, Thiên Mẫu, Tam Giáo Thánh Tòa). LIÊN KHAI = Sen nở. KHỞI TẠO THÀNH = Khởi tạo cho tới lúc hoàn thành.]

 

THIÊN trổ ngát mùi vô vi trãi

ĐẠO Đức xoay môn thiết đêm nay

BẢN lộ tái hồi diệu đề giải

SẮC khai hòa nhịp tạng nền cảnh.

 

SẮC THIÊN, sắc lĩnh liệu đáp đền

TỨ LỊNH cơ mầu nhân minh tục

ĐIỂN LAI VÔ BIỆT GIẢI MA HA

THƠ CA NĂNG ĐIỂN ĐỒNG CAM DIỄN. 

 

ĐẤNG VÔ HÌNH TRIỂN CẢNH VỀ ĐÊM

NGÂM THƠ DIỄN TỢ TRĂNG NON [LINH] THỨU

Áo mão hài OAI ĐỘ TA BÀ

Cơ bản diễn TRĂNG ÔNG lai yến [ánh sáng].

Vưng THÁNH CHỦ LÃO bỉ tự gia

Âm dương hỏa bước động chẳng an

An tự vị Sửu âm dương nghịch

Càn Khôn THIÊN BÁT TỬ chung phân.

[ÂM DƯƠNG HỎA = Âm hỏa Tỵ, dương hỏa Ngọ.]
 

Lai LAI NHƯ khứ nhơn nhơn hảo

Sanh giả tử giả hạ vô cao

Hồng Kiều vạn trượng Thiên Trì pháp
Nguyệt di vân ngã an thân báo [báo thân].


[HỒNG KIỀU = Cái cầu sắc đỏ giăng như cái mống (tức cái cầu vồng mọc ngang bầu trời). Người ta thường ví chiếc cầu bắc ngang qua sông như cái cầu vồng vắt ngang bên trời. "Cầu hồng dậm tiếng dầy tợ sấm, xô bồ dưới nguyệt gót kim liên" (Trích: Tần Cung Nữ).  Hồng Kiều là tên một cây cầu vắt ngang qua dòng Đà Giang của Phượng Hoàng cổ trấn, là cây cầu nổi tiếng nhất ở cổ trấn ngàn năm tuổi, thuộc tỉnh Thiên Tân, TQ.  THIÊN TRÌ =  Địa danh nổi tiếng của dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. Nơi đây gồm tổ hợp những ngọn núi tuyết phủ gần như quanh năm, hồ nước trong xanh, thác chảy trắng xoá, rừng cây và thảm thực vật gần như nguyên sơ. Thời cổ đại, Thiên Trì còn được gọi là Dao Trì. Đây là một hồ băng tích trên núi cao được hình thành từ hơn 2 triệu năm trước. Thiên Sơn – Thiên Trì không chỉ là nơi thể hiện khung cảnh tráng lệ mà còn nơi ghi dấu những câu chuyện về văn hoá lịch sử của Tân Cương và sự giao lưu giữa văn hoá du mục và văn hoá nông nghiệp. Cách đây hơn 3000 năm, tương truyền rằng vua Mục nhà Chu đã dẫn bảy người, cưỡi tám con ngựa và xe rộng, vượt qua ngàn núi sông hiểm trở để đến đây, hội ngộ với Tây Vương Mẫu. Chuyến viếng thăm đó đã để lại huyền thoại “Tương ngộ Dao Trì”, sau này trở thành nguồn cảm hứng với nhiều nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc như Lý Bạch, Lý Thương Ẩn, Quách Mạt Nhược.]
 

Năng năng nhứt hạ đôi ba mặt

Nội bảo tứ hạ vô vi ngọc

Hiềm đủ vận liền điều môn tất

Thế giới Càn Khôn xử giới phân.
 

Trăng soi điểm nguyệt một cảnh riêng

Cầm đờn du ngoạn phỉ chí hiền

Cuồng ca sử Lão khoan nhặt sẵn
Thanh bạch hư không hữu phước duyên.


[TRĂNG SOI ĐIỂM NGUYỆT = nói chữ TÂM, như vậy câu 1 là: Tâm một cảnh riêng. SỬ = phi nhanh, lái nhanh.]
 

Một bầu tiên cảnh chờ ngũ [hành] giới [??]

Mặt ngượng [??] đến nay khẽ bi vi

Ngoẹo đàng nói diệu làm sao đặng

Dụng pháp thi thơ giải nhiệm kỳ.
 

Pháp cao thượng diệu nơi tăng chúng

BỰC CHÍ HƯ KHÔNG xuôi cảnh chung

NHẬP THỂ mật thiết bay trầm bổng

CHƠN ĐIỂN BỐN PHƯƠNG THIÊN CỬU CUNG.
 

 
15. HOÀNG ĐÂU SUẤT TUYỆT TUYỆT PHẬT LAI HIỆN

 
Ngã hữu tế kiến ngã

Hư không khả lạc an

VÔ LƯỢNG HOÀNG ĐÂU SUẤT

TUYỆT TUYỆT PHẬT LAI HIỆN

[CỰC] THƯỢNG THIÊN giai biến

QUANG xuất ĐIỂN [HƯ] KHÔNG GIỚI

VÔ THƯỢNG đối hồi QUỐC

Khai vạch thước tôi trung

Nghĩa HUYỀN CUNG KHAI LỊNH

Bao phen định thiên thư

Trăm câu dù một pháp

Tu cầu pháp vị an

Nếp sống toàn tịch tâm

Hạ sanh phàm thế giới

Ở tại đời tương lai

Hột giống này chăn trưởng

Khai đường hướng HƯNG thể

Vai bởi lẽ CƠ TRỜI

Vận qui hồi kim QUỐC

Thời thế bước nêu cao

Qua bến nào THIÊN

Cao danh ý cương thẳng

Chuyển xoay thân MINH

Nói pháp thơ nhịp điệu

Sự kham hiểu tút còi

Réo từng hồi, hồi tiếp

Một kỳ hiển tâm linh

Xây khuôn hình kết nối

Chờ vận tới xem coi

Tiếng hút còi vang vọng

Gió bão giông ập vào

Gây ra bao lầm lỗi

KHINH LỜI TRỜI HẠI MÌNH

HIỂU TÂM LINH DỄ ĐÂU

Ngưỡng mong cầu sáng suốt

Từng di bước xác thân

Chốn hồng trần đoạn cảnh.
 

ĐỜI DỮ ĐẠO PHÁP THÂN KHINH [NHẸ] TỊNH [SẠCH]

LÒNG TỪ BI PHỦ KÍN NHÂN GIAN

CHUNG HÒA ĐẠO HẠNH CHỈNH TRANG

CẦU ĐẠO CHÁNH PHÁP VẠN BANG [THẾ GIỚI] HẾT SẦU. 

Lô Kiềm Đãn Đa Mạc Bệ Ra

Liễm Liễm Đa Hắc Tất Đa Ha

Đà Ra Ha Lão Đà Đa Xá

Đáp Lệ Dược Ca Tỳ Xa Đa.
 

Không không ảnh hiện tọa không ảnh

CAO cao thinh THIÊN trụ HOÀNG ân

Tuế tuế nguyệt Thượng THIÊN DI hải

Hữu vô không bách hảo phong vân.
 

Ngõa Ngõa Thuật Đế Bất Đạt Dạ

Tam Mạn Đà Da Tất Đế Ha

Na Giá Lị Ha Dà Đế Đạt

Đế Đế Kỳ Yết Trụ Ưu Đà.
 

Chí nhân chí nghĩa NGỌC cao danh

Ngoạn ngoạn Xuân Thu kỳ đạt hoát

Phỉ thuyết tiền đường háo dung niên.

Theo bối cảnh Tòa Chương thay đổi

Bảo mật cơ bốn phía xoay vần

LỰC OAI THIÊN cờ lịnh nơi nơi

HUYỀN năng trổi tái xứ rạng.

Chuyển thoáng qua giục thúc phiên hồi

Chu ngoạn mục an khai kỳ bản

Đường nguyên bang rực sáng reo cười

Khoe sắc điểm bình minh rạng sáng.

Chuyển chu kỳ giải cảnh nan hồi

Khôi phục lối Đông du phi đặng

Cao minh tự chi đà minh tự

Phúc đoàn ca dự thí công hoa.

Toan độ chúng kỳ ba vạn hải

Phúc đài THIÊN chí nhẫn chí nhân

Lui thăng điển bùn Tây hảo dược

Lý kỳ tài sáng tỏ Đông lai.

DI hữu DI nhân tề đáo hạn

Khúc cầm ca trọn kiếp ngàn vàng.

 

4. HỒI HƯỚNG 

 

(Xướng)

Xin dâng tất cả ba công đức

Hồi hướng đến vô lượng quần sanh

Mong Phước Trí tất cả đều thành

Chung tiến hóa thiện lành vun đắp.

 

Chí Tâm Đảnh Lễ Huyền Khung Cao Thượng Đế

Hồng Oai Hồng Từ Tứ Phước Hựu Tội

Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. (3)

 

Chí Tâm Đảnh Lễ Vô Thượng Hư Không

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn. (3)

 

Chí Tâm Đảnh Lễ Chư Khai Giáo Đạo Tổ

Giác Thế Đại Từ Tôn. (3)

 

Chí Tâm Đảnh Lễ Long Hoa Giáo Chủ

Chuyển Thế Đại Từ Tôn. (3)

 

Chí Tâm Đảnh Lễ Phật Thánh Tiên Liên Kỳ Hải Hội

Bồ Tát Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. (3)

 

HẾT

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn