CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC CỦA HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG

02 Tháng Ba 201812:00 SA(Xem: 21398)






CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC CỦA THIÊN THƯỢNG: HUỲNH ĐẠO THIÊN KHAI KỲ BA VÔ VI: ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG


 
 
I. GIỚI THIỆU CƠ THIÊN ĐÃ ĐƯỢC TIÊN KHẢI TRONG NỘI DUNG TAM NHẬT ĐÀN DO CƠ QUAN LINH HIỂN BÁT QUÁI ĐỒ THIÊN GHI CHÉP VÀ LƯU GIỮ


Vào ngày rằm tháng Giêng năm Ất Hợi 1935, tức ngày Giáp Tí tháng Mậu Dần âm dương lịch hay ngày 17 tháng 2 dương lịch,
một mật đàn kéo dài ba ngày đã diễn ra nơi cơ quan linh hiển Bát Quái Đồ Thiên thuộc tỉnh Hà Tiên của miền Nam Việt Nam.  Nội dung của Tam Nhật Đàn này chứa đựng những thông điệp vô cùng quan trọng liên quan đến CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ đương thời và THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI trong tương lai.  Nội dung của mật đàn này đã không được phép công bố trong suốt một thời gian dài gần 3/4 thế kỷ theo Chỉ Thị của Thượng Đế.  

    

          Trong đàn cơ này, Cha Trời đã giáng đàn để "minh chơn lý" và lập văn tự làm chứng cứ cho nhơn sanh ngày sau thấy rõ mà tin theo rằng THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI hay THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO KỲ BA VÔ VICHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC CỦA HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG đã được "lên kế hoạch" và nhất định "sẽ tới" vào một thời điểm đã được "định trước". Cha Trời đã chỉ thị cho cơ quan linh hiển Bát Quái Đồ Thiên của Đạo Cao Đài rằng họ chỉ được phép phổ biến nội dung của Tam Nhật Đàn này khi đến đúng thời điểm căn dặn.    

  

      Lúc đó, năm 1935, Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ chỉ mới thành hình chưa tròn 10 năm.  Và thời điểm mà Thượng Đế đã căn dặn "cho phép phổ biến" nội dung mật đàn là khi mà "Trung Đông chiến họa, lưỡng dân điêu tàn" và "đời đạo đều hỗn loạn".  Thời điểm được tiên khải ứng vào vào năm 2001 trở về sau và hoàn cảnh được tiên khải chính là từ sau sự kiện 9/11 làm sụp đổ hai tòa cao ốc ở Newyork, dẫn đến quyết định Hoa Kỳ xâm lăng Iraq năm 2003, rồi kéo dài gần hai  thập niên "chiến họa" khắp Iraq nói riêng và khắp Trung Đông nói chung, đưa đến tình trạng "lưỡng dân điêu tàn" của hai khối dân Sunni và Shia trên xứ sở Iraq vì bị cuốn vào vòng xoáy "đời đạo hỗn loạn".  Một tiên khải vô cùng chính xác!  Văn bản Tam Nhật Đàn đánh máy quay roneno có đóng dấu xác nhận nội dung được ghi chép vẫn còn đang lưu trữ tại Bát Quái Đồ Thiên. 
 

      Lật lại từng trang thiên thơ chúng ta có thể lượt ra một số đoạn "cốt lõi" của mật đàn như sau: 
 
*** Xin làm ơn ghi nhận những chữ trong ngoặc vuông là [của người viết] chèn vào để giúp làm rõ nghĩa câu văn. Còn những chữ nghiêng nằm trong ngoặc kép là "nguyên văn" từ văn bản tham chiếu hay trích dẫn.***

 

"Ngày kia, tại xứ VIỆT NAM, Trời lập BÁT MÔN ĐỒ TRẬN có 8 cửa: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Hào quang sáng chói nửa lừng trời thì bá đạo hoàn cầu thấy hào quang, sang phá trận cho tiêu tàn, giành làm bá chủ. Trận Bát Môn của Trời lập, chính là THIÊN MÔN TRẬN người tu một ngàn năm vào trận khó ra. Thiên Môn Trận thâu hồi bá đạo vào Bảng Phong Thần, đó là Phong Thần thăng Bảng Kỳ Ba đó các con! Như vậy thì bá đạo hoàn cầu thấy hào quang kéo sang phá trận đều bị tiêu diệt, hồn lên Bảng Phong Thần hết cả.  Vậy thì bá đạo không phá nổi đồ trận của Thầy. Thầy mới thống nhất mà giáo truyền Đại Đạo khắp cả thế giới năm châu vũ trụ, chẳng phải truyền [các mối] đạo ngày hôm nay đó các con!(Trích Dẫn 1, trang 5, Tam Nhật Đàn).

 

"Ngày hôm nay [1935] Thầy giáo Đạo để biểu hiệu Cao Đài Phổ Độ là [để] độ các con lập công giải thoát cho kịp kỳ tận thế này nên Thầy giáng Đạo chưa khai Giáo.  Đến cơ phổ độ hữu hình (thì hữu hoại) tiêu hoại hết rồi thì chỉ còn lại những đạo tâm hữu căn hữu phước anh tài tuấn kiệt Thầy mới khai Giáo kỳ ba thì Phật Thánh Tiên Tam Giáo hạ trần hoát khai Huỳnh Đạo lập đời Thánh Đức Tân Dân, thì chừng đó Huỳnh Đạo thâu hết những kẻ đắc pháp huyền hư cùng hiền tài tuấn kiệt mà dẹp loạn can qua hoàn cầu mới được.." (Trích Dẫn 2, trang 5, Tam Nhật Đàn).

 

"Đến ngày Thiên khai Huỳnh Đạo, đó là [ngày] khai giáo Đạo Huỳnh, thì Phật Thánh Tiên Tam Giáo hạ trần xuống thế mà thống nhất hòa bình, năm châu cùng vũ trụ, [rồi] Thầy mới đem biểu hiệu Cao Đài mà truyền lưu cõi thế, các con không thông căn Đạo, không tìm hiểu được Thiên Cơ, tưởng lầm Cao Đài [Tam Kỳ Phổ Độ] truyền đạo Năm Châu Thống Nhất hoàn cầu. Chưa được! Vì Cao Đài [Tam Kỳ Phổ Độ] là cơ hữu hình đâu có Phật Thánh Tiên mà thống nhất, đâu có Phật Thánh Tiên mà lập Bát Môn Đồ Trận. (Trích Dẫn 3, trang 5, Tam Nhật Đàn).

  

"... cho nên Cao Đài là cơ Phổ Độ không có lập đời. Còn lập đời là Huỳnh Đạo, là cơ Vô Vi, là Phật Thánh Tiên xuống thế lập đời mới được..." (Trích Dẫn 4, trang 6, Tam Nhật Đàn).

  

"Cao Đài Phổ Độ là [cho] ngày hôm nay [1935]. [Tới] cuối Hạ Ngươn đời tận thế [,] là [lúc] tận diệt loài người năm châu cùng là vũ trụ [sẽ chỉ] còn lại kẻ hữu căn hữu đức đặng lập đời trở lại Thượng Ngươn, thì Luật Trời định [là] Giáo [Tôn] Đạo Huỳnh [sẽ] xuống thế độ kẻ hữu căn lập đời [chớ] không có Phổ Độ [nữa]. Hôm nay [Đấng] Tạo Hóa giảng Đạo tại xứ Việt Nam. Thầy vâng lịnh [Đấng] Tạo Hóa đầu thai xuống thế độ kẻ hữu căn lập Đời Thượng Ngươn trở lại, y lịnh của Tạo Hóa, cũng không có Phổ Độ.  Phổ Độ là do Thầy quá thương các con là nòi giống của Thầy, [sẽ] bị Luật Trời tận diệt hết chẳng còn, nên Thầy hoài tâm cùng [Đấng] Tạo Hóa nhiều lần mà xin xá tội các con, cũng xin cho Thầy độ hết các con về cùng Thầy (không nỡ bỏ). Vì vậy nên Thầy tá danh Cao Đài Phổ Độ, Thầy đem hai kỳ trước chung lại, kêu là Tam Kỳ Phổ Độ. Chính thiệt là kỳ này Lập Đời chớ không có Phổ Độ. Phổ độ đây là phần riêng của Thầy độ các con đó thôi. Nếu kỳ này Thầy không độ các con lập công giải thoát thì các con [sẽ] bị Luật Trời tiêu diệt hết chẳng còn." (Trích Dẫn 5, trang 16, Tam Nhật Đàn).

  

"... kẻ hữu đức là kẻ có công tu kiếp trước. Buổi cuối hạ ngươn, đời tận thế Hội Long Hoa thì kẻ hữu căn được tiếp luồng điển Thiên tu hành hết trước ngày Thầy giáo Đạo Cao Đài này sẽ thấy đắc quả Phật Thánh Tiên.  Còn người được đắc pháp huyền hư, lục thông phát huệ, tiếp điển với Thầy, nghe Thầy chỉ dạy, những kẻ đó hiện giờ (tức buổi cuối hạ ngươn) làm phận sự của Thầy [giao phó], hành Đạo Kỳ Ba Vô Vi, đi thống nhất Triệt Giáo hoàn cầu mà thành lập Đạo Thầy, thì những kẻ đó hiện giờ (tức buổi cuối hạ ngươn) tiếp điển với Thầy mà thông hiểu được căn cội nguồn gốc Đạo Thầy từ Thượng Giới đến hữu hình thế gian, không cần Thầy nói giống như Thầy nói cho các con biết đây." (Trích Dẫn 6, trang 17, Tam Nhật Đàn).

  

"Vì vậy khi Thầy ngự Bạch Ngọc Kinh chầu Thượng Đế thấy Luật Trời xoay chuyển cận ngày tạo Thiên lập Địa, thay quả Địa Cầu, thay bầu trái đất, nhân vật cỏ cây đều thay đổi cả, đó là Ngũ Hành thâu loài người cùng vật chất đó các con, vì vậy Thầy gấp gấp mau mau giáng Đạo Kỳ Ba, ngày mùng Một tháng Giêng năm Bính Dần [1926], Thầy dùng huyền diệu cơ bút khắp nơi mà kêu réo các con mau quay đầu tỉnh ngộ mà theo Đạo Cao Đài [rồi nhờ] có Tổ Tiên ủng hộ mà giải thoát hay là xác thịt còn sống được [đặng] Thầy độ [tới kỳ] lập đời Tân Dân Thánh Đức." (Trích Dẫn 7, trang 17, Tam Nhật Đàn).

  

"Đó là hữu hình, rồi đây tiêu hoại hết, nhưng đó là kế hoạch của Thầy triệu những kẻ Căn Đời vào Đạo đó thôi. Còn thiệt của Thầy là Kỳ Ba Vô Vi Lập Đời, còn Kỳ Phổ Độ [sẽ bị] tiêu diệt hết rồi. Còn lại những kẻ Đạo tâm hữu căn hữu đức sống đúng Luật của Thầy [thì] Thầy mới độ dẫn qua Kỳ Ba Vô Vi, đặng lập Đời. Vì Luật Trời định vậy nên cơ Phổ Độ phải bị tiêu diệt theo Nhân Sanh, đặng chọn kẻ Đạo tâm, đặng lập Đời, không một kẻ nào thoát khỏi vòng hỗn loạn binh đao cùng dịch chướng đó các con!" (Trích Dẫn 8, trang 19, Tam Nhật Đàn).

 

"Kỳ Ba Vô Vi là Phật Thánh Tiên xuống thế lập đời nên Thầy chọn rặt những kẻ nguyên căn, còn kẻ hóa nhơn thì vớt hồn về quê cũ đó các con. Còn người hành phận sự kỳ ba của Thầy là những người đắc pháp huyền hư, lục thông pháp huệ, dùng thân [để] cảm, tưởng mà tiếp điển với Thầy hành phận sự vô vi.  Những người đó hiện giờ không có lãnh phận sự lập công trong cơ Phổ Độ.  Vì cơ Phổ Độ của Thầy [là để] độ những kẻ thiếu căn thiếu đức còn lại . . . Còn những kẻ đắc pháp huyền hư tiếp điển với Thầy là bực Phật Thánh Tiên [của] Tam Giáo xuống trần đầu thay làm người đặng thay Thầy hành phận sự ở thế gian.  Đắc pháp mà tiếp điển được với Thầy là ở trên Tam giáo xuống mới tiếp điển được với Thầy, còn ngoài ra không ai được hết, đó là [các] vị Minh Sư ở Trần Thế." (Trích Dẫn 9, trang 19, Tam Nhật Đàn).

 

"Thầy minh ra cho các con biết rõ, những người phận sự của Thầy ở thế kêu là Minh Sư, nhưng còn một bậc Sư Ông [đang] còn ẩn.  Những người phận sự của Thầy đều có Sắc Lệnh của Trời ban trên Tam giáo xuống trần gian thay mặt cho Thầy đặng diệt tà độ chánh, đặng lập Đời, chẳng phải là thường. Người phận sự của Thầy đủ quyền thưởng phạt thế gian, đủ tài năng thao lược, pháp bửu nhiệm mầu. Nếu người thay mặt cho Thầy không đủ  tài năng thì làm sao thống nhất Triệt giáo hoàn cầu mà lập thành Đại Đạo đó các con? " (Trích Dẫn 10, trang 21, Tam Nhật Đàn).

  

"Hiện giờ, người nhận phận sự chưa tới, còn ẩn danh như Khương Tử, để Kỳ Ba các con thấy rõ nhiệm mầu huyền diệu của các Sư Ông.  Các con đừng lầm tưởng các bậc Minh Sư ở ngoài cơ Phổ Độ không có vô lập công như các con, các con cho đó không phải là người Đạo Cao Đài là quá đổi quá dốt. Thầy cho biết: Đạo Cao Đài gồm hết những kẻ hữu căn hữu đức hùng anh tuấn kiệt, cùng các bậc Minh Sư ở [trên] toàn quốc Đất Việt đều chung lo tạo dựng Đạo Cao Đài." (Trích Dẫn 11, trang 21, Tam Nhật Đàn).

  

"Cơ lập công với Tạo Hóa, kỳ Hội Long Hoa tận thế có nhiều bậc Tam Giáo hạ trần đầu thai mượn xác làm người, lập công Kỳ Ba Vô Vi, dựng nước khai non, thống nhất Triệt Giáo, thành lập Đạo Thầy. [Họ là] bậc thiện căn, hữu đức không ham mê vật chất quyền danh." (Trích Dẫn 12, trang 21, Tam Nhật Đàn).

  

"Phán Đoán Đại Đồng, là ngày Luật Trời thưởng phạt loài người, tận diệt khắp cả thế gian hoàn cầu cùng Vũ trụ thì không còn một chéo đất nào ở thế gian còn nguyên vẹn. Chừng đó Thầy cho chư Thần độ xác những kẻ hữu căn hữu đức, độ xác những anh hùng tuấn kiệt đạo tâm ẩn nơi Thánh Địa đem về non đảnh là nơi Huyền Linh Thiên định trước giờ ở yên nơi đó, chờ ngày Thiên Khai Huỳnh Đạo Tam Giáo giáng trần thâu những kẻ đạo tâm hùng anh tuấn kiệt mà hữu dụng [cho] Kỳ Ba lập đời khai non dựng nước đó các con."  (Trích Dẫn 13, trang 22, Tam Nhật Đàn).

  

"Đàn hôm nay [1935] là Tam Nhật Đàn. Đàn của Thầy minh chơn lý là Minh Sư thiệt của đạo, để cho các con sau này coi biết rõ sự thật từ cơ Phổ Độ Hữu Hình cho tới Kỳ Ba Vô Vi lập đời. Đó là Thầy cho biết rõ căn cội nguồn gốc Đạo Trời [Thiên Đạo].  Còn cơ Phổ Độ của Thầy mượn giả làm thiệt nên Thầy không cho biết sự thiệt, cho biết thì lậu cơ mưu độ các con sao được, chớ Thầy nào có muốn giấu." (Trích Dẫn 14, trang 23, Tam Nhật Đàn).

  

"Thầy dặn các con hãy nhớ, đến ngày hỗn loạn là cơ của Thầy bế tắc, là kỳ hữu hình đã mãn, sang qua kỳ vô vi là các con bít đường lối, không biết Đạo đi tới nữa là chi, chỉ những kẻ có điển quang quán tưởng tiếp với Thầy  mới hiểu thông mọi việc ... Các con hãy nhớ kỷ lời Thầy. Thánh giáo [của] Thầy [hãy] cất giữ, đời hỗn loạn mới được phép cho ra, bất tuân mệnh lệnh đại tội đó nghe con." (Trích Dẫn 15, trang 26, Tam Nhật Đàn).

 
 
II. ĐỐI CHIẾU CƠ THIÊN TAM NHẬT ĐÀN VỚI NHỮNG LỜI TIÊN KHẢI
CỦA CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG ĐƯỢC CÁC MỐI ĐẠO CỦA VIỆT NAM GHI CHÉP VÀ LƯU GIỮ


Từ nội dung Tam Nhật Đàn, nhất là xuyên qua 15 đoạn trích dẫn trên, một bức tranh tổng thể rõ nét đến độ không thể diễn dịch sai lầm và không thể không tin, nhất là sau khi đối chiếu lại với những diễn biến trong ĐỜI & ĐẠO suốt gần một thế kỷ qua.  Tam Nhật Đàn có thể nói đúng là một văn bản "lập ngôn làm bằng chứng" của Thượng Đế về toàn bộ CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC CỦA HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG, từ khi bắt đầu "giáng Đạo" năm 1924 rồi hoằng khai CAO ĐÀI
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ năm 1926 để phổ độ nhơn sanh đất Việt, rồi hoằng khai THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO năm 1962 là cơ kỳ tạm thời trong giai đoạn chờ đợi, tiếp theo là giai đoạn xuất lộ của Thượng Đế trở lại lần ba trên đất Việt, và Phật Thánh Tiên của Tam Giáo cùng đầu thai xuống trần, để "khai Cơ"  THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI năm 2014 rồi "khai Giáo"  năm 2016 với danh xưng GIÁO HỘI THIÊN TRƯỜNG phổ  truyền ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG vẫn lấy biểu hiệu "Cao Đài"  của Đấng Huyền Khung Cao Thượng Đế với biểu ý "Đài Cao tột Huyền Không" cũng là "Ngôi Chí Tôn Chí Thượng" tiến tới mục tiêu sau cùng của chương trình là mở màn giai đoạn LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC TÂN DÂN - THIẾT LẬP KỶ NGUYÊN DI LẠC trong nỗ lực giúp cho nhân loại trên quả địa cầu này bước vào thời Thượng Ngươn tiếp tục tiến hóa xa hơn nữa. 

 

      Trong phần kế tiếp người viết sẽ trưng ra khá nhiều dữ liệu thu thập từ những thiên thơ, sấm giảng, tiên tri, thánh giáo của các tôn giáo khác nhau được các đấng huyền vi khải lộ vào những thời điểm khác nhau để làm sáng tỏ một số điểm then chốt giúp cho người đọc có cơ hội suy nghiệm, kiểm chứng, tổng hợp, và tự nhận định.  Theo nhận xét của cá nhân người viết, có thể nói tất cả (không phải hầu hết mà là tất cả) những điều tiên khải đều mang tính nhất quán, xuyên suốt, khế hợp, và ứng nghiệm chính xác. 

 
*** Xin mạn phép được gợi ý với quý bạn rằng đọc thiên thơ (hiển thơ mật nghĩa) không giống như đọc bạch văn (hiển thơ hiển nghĩa) vì từ ngữ sử dụng và kỹ thuật mã hóa trong thiên thơ rất thú vị và cao siêu.  Đơn cử một vài trường hợp làm thí dụ. Như chữ "thanh bạch" không thể diễn giải là trong sạch mà "thanh" là tiếng nói và "bạch" là tác bạch, là trình bày như vậy "thanh bạch" là lời thưa trình, giải trình bằng lời nói. Hoặc như chữ "đạt lai bổn căn" không thể diễn giải là "bổn căn của Đạt Lai Lạt Ma" mà "đạt" là thành tựu và "lai" là trở lại như vậy "đạt lai bổn căn" là đã hoàn lại bổn căn. Hoặc như chữ "Tây tạng" không thể diễn giải là đất nước Tây Tạng mà "Tây" là phương Tây và "tạng" là nơi chứa như vậy "Tây tạng" là nơi cư trú ở phương Tây. Hoặc chữ "Thanh bình" không phải là thanh bình mà "thanh" là Thanh Sơn (Trạng Trình) và "bình" là bình giải. Hoặc "niên Dậu tuế" phải được diễn giải là Dậu niên và Dậu tuế, tức tháng 8 năm Dậu, chữ Dậu xài cho cả hai. Hoặc là vận dụng đão ngữ, cận ngữ, mật ngữ, bán ngữ, đồng âm dị nghĩa, chiết tự, điển tích, biểu cảnh, biểu tượng, biểu ý, câu trên dưới liên hoàn, thiên văn, địa lý, âm dương, ngũ hành, bát quái, kinh dịch, hà đồ, lạc thư, phong thủy, và ngay cả lịch sử.  Thiên thơ cũng vận dụng đa dạng cấu trúc và hình thái diễn đạt như văn xuôi, thơ, phú, nhạc, vịnh, vè, sấm, kệ, giảng, đối, khoán thủ, khoán yêu, khoán hậu, khoán biến tấu, Việt Hán, Việt Nôm, Việt cổ, nhiều loại tiếng/chữ thiêng (từ Thượng Thiên tới Hạ Thiên tới Âm Giới), phù, chú, ấn, sắc ... vân vân.  Thường là một người không có sứ mạng và không có cảm ứng tâm linh bén nhạy thì khó có thể hiểu được mật nghĩa nếu chỉ cậy  vào học thức để diễn giải.*** 

   
  

Điểm 1.
CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ hoằng khai năm 1926 chỉ là bước khởi đầu trong CHƯƠNG TRÌNH CỦA THIÊN THƯỢNG nhằm phổ độ nhơn sanh Việt kém căn mà hữu phước.  Đến THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO hoằng khai năm 1962 là cơ kỳ tạm thời trong giai đoạn chờ đợi. Nay là bước vào thời kỳ chuyển tiếp THIÊN ĐẠO
KỲ BA VÔ VI, thời kỳ hoằng khai ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG hay còn gọi là THIÊN ĐẠO HUYỀN KHÔNG để tuyển sĩ hiền chuẩn bị lập đời Thánh Đức Tân Dân.

 
  

Điểm 2. 

THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI bắt đầu vào thời điểm mà thế giới chứng kiến:"Trung Đông chiến họa lưỡng dân điêu tàn" "Ngòi lửa dậy bốn bề nao nức, năm châu tràn tuyệt dứt nhơn sanh".  Cũng vào thời điểm đạo đời "đến ngày hỗn loạn" đó"các con bít đường lối không biết Đạo đi đến đâu nữa" ; "bá đạo ra tranh hùng, Triệt Giáo dùng tả đạo bàng môn mượn danh Tiên Phật mà độ giành người, cướp giật nhân sanh, làm nhiều điều tà thuật chóa mắt" ; và đó là ngày mà "cơ Phổ Độ của Thầy đã mãn" chuyển qua cơ THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO KỲ BA VÔ VI.

  

Điểm 3.
THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI không phải là một TÔN GIÁO. Nói cho chính xác KỲ BA VÔ VI là một "cơ kỳ" trong sự vận hành chuyển dịch của THIÊN ĐẠO, là ứng danh cho một giai đoạn diễn biến, qua đó công việc của các đấng Phật Thánh Tiên nhận lệnh Tam Giáo đầu thai xuống thế gian trong xác thân con người dưới trần để thực hiện CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC CỦA HUYỀN KHÔNG THIÊN THƯỢNG sẽ phải được thực hiện.  Các "Phật Thánh Tiên tại trần" này sẽ không làm "công tác hoằng hóa hữu vi", như là của các tiền bối đã làm để "lập công bồi đức" trong cơ Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, mà chỉ "thực hiện sứ lệnh vô vi" trong cơ kỳ của THIÊN ĐẠO KỲ BA VÔ VI.
    
  

Điểm 4.
Những "Thiên Nhân" này là những "Minh Sư " tự biết rõ "căn  phận vô vi" của mình, lặng lẽ "tiếp điển" tu thân, sống giữa chợ đời ô trược, hành động như người tầm thường, cho đến khi đúng thời điểm "nhận sứ lệnh hành động" thì Thượng Thiên mới "khai mở bộ đầu" để họ "tự ráp nối" với "chơn linh của mình", "đắc pháp huyền hư, lục thông phát huệ" mà trở thành siêu phàm, hiểu rõ thiên cơ, tận tường chơn lý, "biết đường hành sự" khế hợp với trên Thiên.  Điều này cũng được Thầy Thượng Đế xác lập thêm một lần nữa trong đàn cơ của Thiên Khai Huỳnh Đạo năm 1967:

  

"Gần đến lúc mật truyền biện pháp

Cho nhơn hiền tự ráp chơn linh

Những con đúng đắn điển hình

Qui thành yếu lý siêu hình giáng ngay"

(Ngọc Kinh 3, trang 42, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)
  
  

Điểm 5.
Trong số những "Minh Sư " tại thế có các "Sư Ông" căn cơ rất cao trọng.  Đàn cơ ngày 23 tháng 3 năm Kỷ Sửu 1949 của bộ phận Hiệp Thiên Đài tại Hà Tiên, ghi trong tập Đại Đạo Luận, cho biết là những Minh Sư và các Sư Ông vẫn chưa xuống thế, chỉ là cận ngày thôi.

 

"Đại Hội Long Hoa đã cận rồi

Thánh Thần Tiên Phật sắp lìa ngôi

Tề an bá tánh qui kim cổ

Thiên mạng phụng hành chớ thả trôi."

(Đại Đạo Luận, trang 11, Hiệp Thiên Đài, 1949) 
  

        Nhưng đến năm 1967, căn cứ theo lời Thầy Trời tiết lộ trong đàn cơ của Thiên Khai Huỳnh Đạo thì các Minh Sư và các Sư Ông này đã có mặt dưới trần.

   

"Phật Thánh Thần Tiên đã xuống rồi

Chỉ chờ giờ phút đúng đi đôi

Giang sơn đất Việt luôn tài đấp

Đất nước nhà Nam sẵn đức bồi."

(Ngọc Kinh 3, trang 3, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)

 

      Như vậy, dựa vào hai mốc thời gian trên thì có thể đoán ra là những Minh Sư và các Sư Ông đã hạ sinh trong khoảng thời gian 1949-1967.  Tính đến hôm nay, năm 2019, thì các vị này đang ở độ tuổi 52-70. 
 
 
Điểm 6. 

Thượng Đế đã nhiều lần "tiên khải" sự trở lại lần thứ ba của Thượng Đế trên đất nước Việt Nam.  Văn bản của đàn cơ Thiên Khai Huỳnh Đạo năm 1967 ghi:

   

"Đã tuyên bố một lời: THƯỢNG ĐẾ
Quyết xuống trần cứu thế kỳ ba
Phơi bày chí đức vị tha
Công bình, bác ái đem ra khỏa lòng"
(Ngọc Kinh 3, trang 7, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)
 
Và,
"NGỌC ẩn Kỳ Sơn, xuất tại Nam
HOÀNG gia xuống thế độ con phàm
THƯỢNG khai cơ Đạo văn thiên định
ĐẾ xuất Nam Bang duyệt phẩm hàm
GIÁO hóa con thơ hành chánh pháp
ĐẠO mầu huấn luyện sắc Già Lam
NAM kỳ Đế Chúa còn im ẩn
PHƯƠNG h­ướng định rồi dạ phải cam." 
[Khoán thủ: Ngọc Hoàng Thượng Đế Giáo Đạo Nam Phương. Đế Chúa = Thượng Đế]
(Ngọc Kinh 3, trang 39, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)
 

      Bửu Sơn Huỳnh Đạo cũng có những bài cơ bút nói về sự trở lại lần thứ ba trên đất nước Việt Nam của Thượng Đế:

  

"GIẢI thích từng câu khỏi lạc lầm

ĐÁP lời HƯNG QUỐC đạo huyền thâm

HUYỀN THIÊN định áng nhiều cơ hóa

pháp Phật Tiên quyết xuất tầm.

[Khoán thủ: giải đáp huyền cơ.  Huyền Thiên = Huyền Thiên Thượng Đế]
 

XUẤT tầm khoán thủ thuyết bài thi

bút Thiên Oai áng định kỳ

HƯƠNG Bửu đạo đàn Minh Chiếu điển
SƠN Liên Đế Đạo rõ huyền vi.

[Khoán thủ: xuất cơ hương sơn. Thiên Oai = Thượng Đế]
 

HUYỀN VI giáo đạo Đấng Từ Bi

BÁC ÁI diệu vi quyết luyện trì
TAM THÁNH Thiên Tiên giờ đặt định
GIÁO NGÔN xuất thế rõ tam kỳ.

[Khoán thủ: Huyền vi bác ái Tam Thánh giáo ngôn. Tam Thánh Tiên Thiên = Ngươn Thỉ Thiên Tôn, Đạo Đức Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn.]   

TAM kỳ thế đạo hiệp làm xong

GIÁO đạo Nam Phương gởi đại đồng
CHUẨN tánh Thiên Tiên Huỳnh Bửu Điện
BÚT thần cơ lược sách HUYỀN KHÔNG.

[Khoán thủ: Tam Giáo chuẩn bút] 

HUYỀN KHÔNG áng định phẩm tòa chương
Vi diệu ĐẠO THIÊN hé lộ đường
Kỳ định năm này TA phổ hóa
Ba lần xuất Đế Đạo muôn phương.
[Năm này = Đinh Dậu 2017. Ta = Huyền Không Thượng Đế = Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Tích Phước Hưu Tội Đại Thiên Tôn. Đế Đạo = Đạo của Thượng Đế dựng lên.  Ba lần xuất Đế Đạo = là 3 lần Thượng Đế đầu thai xuống thế trên đất nước VN để mở đạo: lần thứ nhứt kim thân là Ngôi Hai Ngô Minh Chiêu, lần thứ nhì kim thân là Nhị Thiên Võ Văn Phẩm, lần thứ ba kim thân là Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc.]
 

Muôn phương thế giới đạo đồng chung

Vạn kiếp càn khôn đến Cửu Trùng
Linh ứng cơ mầu nền Đạo cả
Căn lành đưa chuyển ĐẠO HUYỀN KHUNG.
[Đạo Huyền Khung = Đại Đạo Huyền Không = Thiên Đạo Huyền Không]

 

HUYỀN KHUNG THIÊN ĐẠO ấn hành chung
Vi lượng Hà Sơn đăng đại chung
Thiên đại Kỳ Hoa cơ ĐẠI ĐẠO
Đạo THẦY, đạo MẪU đạo đồng chung.

[Thiên đại = Ông Thiên lớn = Thượng Đế.  Kỳ Hoa = Hoa Kỳ. Cơ Đại Đạo = cơ Đại Đạo Huyền Không]
 

Đồng chung Thập Nhị Đạo Thời Quân
Tâm hạnh phước duyên chuyển pháp luân
Tam Giáo Phật Thiên Tiên Thánh chúng

Giới căn tuệ gốc Lão Hồng Quân.
 
Hồng Quân Lão Tổ trở về đây
Chung Đại Thiên cơ đạo pháp này
Đại Mộc chơn truyền nguyên chánh thể
Can Thiên Huỳnh Đế chuyển tầm xoay.

Lập đạo mới THIÊN HOÀNG ứng chuyển
Bắc Đông Tây Nam QUỐC chơn truyền
Đạo Sơn Kỳ hợp khế Huỳnh Khai
Dựng đạo mới hoàn cầu rung chuyển.

[Thiên Hoàng = Đại La Thiên Đế Thái Cực Thánh Hoàng. Dựng đạo mới = Thiên Đạo Huyền Không hay Đại Đạo Huyền Không. Bửu Sơn Kỳ Hương hợp khế với Thiên Đạo Huyền Không là Thiên Khai Huỳnh Đạo Kỳ Ba Vô Vi. Và Hưng Quốc (kim thân) sẽ theo ứng chuyển của Thiên Hoàng mà "khai giáo", "lập đạo mới"]


Ngày khai ấn đạo Thiên Sơn Bửu
Đủ Thập Tam Đại Đẳng Huỳnh Kỳ
Giờ hiện hình Bát Quái Đại Thiên

Thật linh ứng đắc tân THIÊN ĐẠO.

 

Giao chiếu chỉ Hồng-Huỳnh Thiên đại
Đại La Thiên kim ấn trong tay

Điện Kim Loan cho áng binh phù

Xoay chuyển thế khế cơ hiệp đạo.
[Hồng = Hồng Hoa; Huỳnh = Huỳnh Long. Hai vị "Thiên đại" đứng đầu Long Hoa Hội. Kim ấn của Đại La Thiên Đế Bạch Ngọc Cung. Binh phù của Diêu Trì Cung]

Chọn nhân sự PHẬT THẦY thường chuyển
Tâm tịnh an chơn tánh như như

Phúc kiến linh huệ trí sáng lành

Hiệp đoàn thể thân tâm thuần biến.

 

Hội Tiên Thánh Phật thiêng linh ứng

Giúp QUỐC HƯNG, hiền hữu, đạo đồng

Khai cửu đàn khiếu đỉnh Tòa Tam
Mở THIÊN ĐẠO trung tâm Mỹ Quốc.

[Thiên Đạo Huyền Không hoằng khai tại California ngày mùng 2 tháng 8 năm Đinh Dậu theo cơ của Huyền Không Thiên Thượng (đã đúng như đã tiên khải!)]
 

Chi thứ nhất Việt Nam chủ đạo
Hiệp hoàn cầu Nam Bắc Đông Tây
Phải hành y đúng Pháp Đạo THẦY

Thì xuất thế linh quang hóa chuyển."
[Thầy = Thượng Đế]

(Đàn St.Louis, thiên thơ Giải Đáp Huyền Cơ, ngày 17 tháng 6 năm Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Huỳnh Đạo).

          Đàn cơ Nam Thành vào tháng 7 năm Kỷ Hợi 2019 của ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG (THIÊN ĐẠO HUYỀN KHÔNG) cũng xác nhận:

"Điển quang thông quán lời THẦY

KHAI GIÁO, KHAI CƠ muôn thế kỷ

HUYỀN KHÔNG THƯỢNG ĐẾ Thiên lai giả

ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG thiết lập kỳ.

 

Qua bao giai đoạn không hoài thể

Phổ độ nhơn sanh giáo đạo bề

Thần Tiên Thánh Phật hành chuyển dịch

Hiện lịnh cơ kỳ khôi trần mê [khôi = khôi phục]

Nhơn sanh giới chúng ngày hỗn loạn

THƯỢNG ĐẾ THẦY khai mật truyền ban

THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO ra đò thế

Tam Kỳ Phổ Độ chánh pháp thuần.

[Thiên Khai Huỳnh Đạo nói ở đây là Thiên Khai Huỳnh Đạo Kỳ Ba Vô Vi, không phải Thiên Khai Huỳnh Đạo tạm thời hoằng khai năm 1962 trong giai đoạn chờ đợi]
 

NGỌC Bạch xuất kỳ nguyên vũ thành

HOÀNG thọ tái hạ kỳ vạn lành

THƯỢNG Thiên khởi mạch hữu biến khởi

ĐẾ Thượng truyền trụ túc chiêu thanh

KHAI minh phân giảng cơ đây tới

KỲ cuộc đạo hóa Cao Đức Thánh

tuyển chọn thể hiện bản ngơi

ĐẠO đại kỷ nguyên giáo hóa hành.
[Khoán thủ: Ngọc Hoàng Thượng Đế khai kỳ cơ đạo.] 


Cuộc tẩy trần chót buổi Hạ Ngươn

Nương tá dựng giá ngươn nhân thế 

NHỊ HOÀNG THIÊN thế cuộc hạ thề

Quy nhất thống bước về đại cuộc

ĐỨC NGÔI CAO lâm trần thao lược

Vâng thủ trung sau trước Mộc HUYỀN
HAI NGÔI
một vai tròn xuất hiện
[Hoàng Nhị Thiên = Hoàng Thiên Ngôi Hai. Huyền = Huyền Thiên Thượng Đế = Huyền Khung Thượng Đế.  Mộc = Đông Mộc Công = Ông Trời chưởng quản khí Dương nói theo tín ngưỡng nhân gian. Hai Ngôi = Ngôi Hai.  Đồng thời Hai Ngôi cũng có nghĩa là Ngôi Cha Huyền Thiên và Ngôi Con Hoàng Nhị Thiên đồng nhứt bổn, tuy hai mà một tuy một mà hai.]

Tam NHỊ THIÊN tiếp chuyển cơ mầu

TÂN MINH CHIẾU kỳ tam cơ cấu

Danh là THẦY minh hậu thượng TRỜI

BẠCH NGỌC CUNG THƯỢNG ĐẾ kỷ ngôi.

[tam Nhị Thiên = Nhị Thiên trào tam = Ngôi Hai trào tam. Cơ cấu lại một Chiếu Minh mới trong Kỳ Ba Vô Vi]
 

TIÊN ÔNG triều luận hội chúng sanh
Gian thế khai tam chuyển thể hành

Ánh vàng đạo thế danh MINH ĐẾ
Thông nhứt tụ tề hiểu rõ về.”

[Cao Đài Tiên Ông (Thượng Đế) khai giáo để hội chúng sanh. Xuống thế gian khai cơ lần thứ ba. Ánh vàng đạo = huỳnh đạo kỳ ba vô vi]
(Đàn Nam Thành, Giờ Mão, Ngày 21 tháng 7 năm Kỷ Hợi (21/8/2019), Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền xuất khẩu).

 

      Trong cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý, xb tháng 10 năm 2006, cũng có nhiều đoạn nói về sự trở lại của Ngọc Đế. Và sự trở lại của Thượng Đế lần tới, tiên khải  năm 1982, được tiên khải "lần này cha giáng thế với một chánh vị chưa hề có" và "Ngươn Cơ sẽ chuyển một cách đặc biệt dị thường mà có lẽ khi Cha bước ra các con sẽ thấy":

    

 “Rồi đây, sẽ có vị Thánh Chúa tái lâm, có Đức Bạch Ngọc giáng trần, và một số vị khác được tiếp nguồn ân điển của Cha, để lo cơ chuyển tiếp dọn đường cho kỷ nguyên Thánh Đức. (Vấn đáp số 4)…  Giai đoạn tới đây, khi Cha thật sự ra mặt dưới cõi trần: đây sẽ là giai đoạn chuyển tiếp để báo tin,  dọn đường và chuẩn bị kỷ nguyên Thánh Đức. Đấy là lúc mà các con phải lo chạy nước rút, để kịp thời ứng thi và được tuyển chọn vào Cơ Thánh Đức.”  (Vấn đáp 11) …  Cho nên, khi Cha xuống cõi trần qua Đức Kim Thân, các con rồi sẽ thấy Cha thể hiện mọi bản tính của Thượng Đế ở trạng thái thanh trược một lúc! Và Đức Kim Thân sẽ trần mà siêu cùng một lượt đó con!” ( Vấn Đáp 37) …Cho nên, sắp tới đây, Cha sẽ bước ra để lo Cơ Quy Nhứt, cơ này là đại cuộc của đất trời mà cũng là đại cuộc của linh hồn các con.” (Vấn Đáp 52) . . . Sau này, khi Cha thực sự xuất hiện làm việc, Cha sẽ chuyển những cơ hội đặc biệt để nhiều vị tiến hóa cao ở các nơi đến học hỏi với Đức Kim Thân.” (Vấn Đáp 61) . . .Thượng Đế lâm trần lần này hết sức đặc biệt, và trần gian đang có cơ hội học hỏi Thượng Đế, đang tìm dò Thượng Đế, đang nghe ngóng về tin Thượng Đế, dù Thượng Đế đang Cơ Quy Ẩn.” (Huấn Từ 1982).  Lần này Cha giáng thế với chánh vị chưa hề có, cho nên lần này Ngươn Cơ sẽ chuyển một cách đặc biệt dị thường mà có lẽ khi Cha bước ra các con sẽ thấy.” (Huấn Từ 1982).

       Trong cuốn Đường Về Đạo Quốc, Phật Sự Tiên Rồng, của Thiên Ánh Đạo Vàng, do Đức Vô Danh Thị xuống điển năm 2002 cũng nói tới sự trở lại của Thượng Đế dưới thế vào buổi cuối Hạ Ngươn, trong cuộc tẩy trần phán xét:
 

Sắp khi tới cuộc tẩy trần

Phật Trời Thiên Lệnh phong thần bá gia

Có tu mới định chánh tà

ÔNG THIÊN NHÃN lập Tòa định phân.
[Ông Thiên Nhãn = Huyền Khung Thượng Đế lấy Thiên Nhãn làm biểu hiện]
(Phật Sử Tiên Rồng, trang 184, dòng 621-624, điển thi của Đức Vô Danh Thị, ngày 4 tháng 4 năm Nhâm Ngọ 2002, trong cuốn Đường Về Đạo Quốc ấn tống năm 2012)

   

Như mọi người đều đã biết, lần thứ nhất Thượng Đế hóa thân trên đất nước Việt Nam Giáo Chủ Ngô Văn Chiêu (1878-1932), tức Đức Ngôi Hai trào một, khai truyền Cao Đài Bí Pháp.


"NGÔI HAI GIÁO CHỦ Đạo Nam-Phương,
Nương bút mực đề những luống thương,
NGÔ đồng lá rụng còn đơm trái,
MINH nghĩa dựng đời mối phong cương,
CHIÊU chiêu bóng nguyệt tà canh cánh,
Xét nét ngân vàng phủ giá gương,
Mênh mang lý Đạo đời chưa rõ,
Cần-Thơ chánh thị Tổ-Đình chương."
[Khoán thủ: Ngôi Hai Giáo Chủ NGô Minh Chiêu]
(Thiên Lý Bửu Tòa, đàn giờ Hợi ngày 29 tháng 9 năm 1977)
 

Lần thứ hai Thượng Đế hóa thân trên đất nước Việt NamGiáo Chủ Võ Văn Phẩm (1888-1940) tức Đức Nhị Thiên (Ngôi Hai trào hai), khai truyền Cao Đài Tân Pháp.

"Nhứt điểm thiện tứ Nhứt điểm ban

Nhị Nhân diên hống luyện quy hoàn
Hiếu trung ngưỡng cổ Văn vi thủ
Trụ xuất Nhân gian đạo đức toàn
"

 
Chiết tự,

"Chữ Nhứt mà thêm chữ Nhứt là chữ NHỊ
Chữ Nhị mà thêm chữ Nhân là chữ THIÊN
Chữ Hiếu mà thêm chữ Văn là chữ GIÁO
Chữ Trụ mà bớt chữ Nhân còn chữ CHỦ"

 

Và,
 

" thọ chơn truyền lúc Hạ Ngươn
GIÁO khai Từ Phụ rộng ban ơn
CHỦ tâm hiệp dược trường sinh đắc
GIÁNG hỏa thối phù tánh mạng hườn"
(Bạch Quang Đàn, 25 tháng 1 năm Bính Tuất, 26/2/1946) 
 
       Điều ít người biết, lần thứ ba Thượng Đế hóa thân trên đất nước Việt Nam là Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc (1954-20XX), Ngôi Hai trào ba, hoằng khai THIÊN ĐẠO HUYỀN KHÔNG, đúng với tiên khải "Thượng Đế quyết xuống trần cứu thế kỳ ba."

        Có người cho rằng "kỳ ba" là "ngươn ba" và "xuống trần cứu thế kỳ ba" là "xuống trần cứu thế ngươn ba" ứng vào sự có mặt của Ngôi Hai Ngô Giáo Chủ. Lý luận này không đúng vì Đức Ngô Giáo Chủ "đã xuống thế" và "đã qui hồi cựu vị" năm 1932.  Hoặc cho rằng ứng vào sự có mặt của Nhị Thiên Võ Giáo Chủ thì cũng không đúng vì Đức Ngài "cũng đã xuống thế" và "cũng đã qui hồi cựu vị" năm 1940Còn tinh thần của câu"Đã tuyên bố một lời: Thượng Đế quyết xuống trần cứu thế kỳ ba" là một tuyên ngôn, một xác quyết, một tiên khải cho một sự kiện chưa tới nhưng chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai mà Cha Trời long trọng khẳng định vào thời điểm năm 1967.  Những lời như "ẩn kỳ sơn" hay "còn im ẩn" là để chỉ một nhân vật đang có mặt và chưa tới lúc xuất hiện, còn “Ngôi Hai kỳ một” và “Nhị Thiên kỳ hai” thì đã xuất hiện và đã ra đi.  Hơn nữa, căn cứ theo thiên thơ, tính tới năm 1967 thì cái "khai Giáo" mà Thầy Thượng Đế đã vạch rõ vào năm 1935 trong Tam Nhật Đàn vẫn là  "chưa khai"Như vậy, với câu"Đã tuyên bố một lời: Thượng Đế quyết xuống trần cứu thế kỳ ba" hiển nhiên là một tiên khải vào thời điểm 1967 về việc xuống thế lần thứ ba trên đất nước Việt Nam của Thượng Đế để khai giáo trong tương lai thì theo đó sự xuất hiện của một Ngôi Hai "mới" trên đất nước Việt Nam đã "khai giáo" vào giai đoạn chuyển tiếp qua Thượng Ngươn Thánh Đức là điều hoàn toàn hợp lý.  Đức Ngài "xuống thế độ con phàmtrong xác thân bằng xương bằng thịt được tôn danh là "Ngôi Hai kỳ ba" hoặc "Nhị Thiên trào tam" hoặc "Hoàng Nhị Thiên".  Có như vậy thì mới ứng với câu "ba lần xuất Đế Đạo Nam Phương".  Vị "Nam Kỳ Đế Chúa này sẽ đảm trách vai trò "khai cơ Đạo", "giáo hóa con thơ hành chánh pháp", "huấn luyện sắc già lam", "duyệt phẩm hàm"Chữ "Đế Chúa" ở đây là Đế Chúa của Đại La Thiên, tức Thượng Đế, chứ không phải nói một vị vua hay một ông chúa nào cả. 
         Hơn nữa, những lời thánh giáo như "Nương tá dựng giá ngươn nhân thế, Nhị Hoàng Thiên thế cuộc hạ thề, qui nhứt thống bước về đại cuộc, Đức Ngôi Cao lâm trần thao lược" hoặc "tam Nhị Thiên tiếp chuyển cơ mầu, tân Chiếu Minh kỳ tam cơ cấu" hoặc "Tiên Ông triều luận hội chúng sanh, gian thế khai tam chuyển thể hành" hoặc "Khai giáo khai cơ muôn thế kỷ, Huyền Không Thượng Đế Thiên lai giả, Đại Đạo Huyền Không thiết lập kỳ" hoặc "lập Đạo mới Thiên Hoàng ứng chuyển, Bắc Nam Đông Tây QUỐC chơn truyền" và "Hội Tiên Thánh Phật thiêng linh ứng, giúp QUỐC HƯNG, hiền hữu, đạo đồng, khai cửu đàn khiếu đỉnh Tòa Tam, mở Thiên Đạo tung tâm Mỹ Quốc" thì rõ ràng Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc chính là chủ thể.

 

Như vậy, đã rõ ràng vị "Sư Ông Cao Đại Nhất" trong các Sư Ông chính là Ngôi Hai trào tam Hà Hưng Quốc.  Đức Ngài đang có mặt tại thế trần, đúng như lời "Ngôi Hai trào một" Ngô Minh Chiêu đã tiết lộ trong đàn cơ của Tân Chiếu Minh (Âu Châu) dạy đạo cho đạo huynh Quyền Pháp năm Kỷ Mão 1999: "Thầy lâm phàm rồi" để "loan truyền đạo chánh pháp chơn" ... "mở cơ mầu... lập đời thánh đức dân trời"Với Cao Đài, chữ "Thầy" là danh xưng của Thượng Đế hoặc của Ngôi Hai.
 

"Hạ Nguơn hầu mãn THẦY lâm phàm rồi
THẦY lâm phàm cứu Đời ngày cuối
Vớt Nguyên Căn trong buổi Hạ Ngươn
Loan truyền Đạo chánh Pháp chơn
...

Ngày mạt hậu NGÔI HAI tá thế
Mở cơ mầu, là để lập đời,
Lập Đời Thánh Đức Dân Trời,
Độ Hồn Chủng Loại Người Người thành Tiên."

(Đàn giờ Sửu, ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão 1999, đàn dạy đạo h/h Quyền Pháp)

 

Trong cuốn Kinh Bình Minh Đại Đạo Quyển 3 của Giáo Hội Cao Đài Thống Nhứt, đàn cơ giờ Ngọ ngày 15 tháng 5 năm Canh Tuất (18-6-1970), đồng tử Kim Quang tiếp điển, cũng cho biết sự trở lại lần thứ ba của Thượng Đế trên đất nước Việt Nam: "Ngọc Hoàng Thượng Đế, Kim Viết Cao Đài, Giáo Đạo Nam Phương, Hạ Thế Kỳ Tam" ... "Bạch Ngọc ly [lìa] cung tá thế trần" ..."tam kỳ khai Thánh Thể"  để "chuyển thế tình ... xây thánh đức ... dựng toàn linh ... hội chúng sanh"Hai chữ "Thánh Thể" vừa ám chỉ kim thân của Thượng Đế dưới thế, tôn danh là Ngôi Hai hay Nhị Thiên, mà cũng vừa ám chỉ "Hội Thánh" do Đức Ngài thiết lập.  Và, thêm một lần nữa chính thánh giáo Cao Đài xác nhận là vào thời điểm tả kinh Bình Minh Đại Đạo năm 1970 thì Thượng Đế đã xuống trần rồi: "Ngọc sắc Hoàng cung đã xuất hình"
  

NGỌC sắc HOÀNG cung đã xuất hình
THƯỢNG triều ĐẾ ngự tả Bình-Minh
KIM môn VIẾT luận quyền thiên hạ
CAO khải ĐÀI danh chuyển thế tình
GIÁO huấn ĐẠO mầu xây Thánh-Đức,
NAM bang PHƯƠNG hướng dựng toàn linh
HẠ nguơn THẾ hệ dân vi thiện
KỲ mạt TAM Tòa hội chúng sinh.”

[Khoán: Ngọc Hoàng Thượng Đế, kim viết Cao Đài, giáo Đạo Nam Phương, hạ thế kỳ tam.  Hạ thế kỳ tam là hạ thế lần thứ ba chứ không phải hạ thế ngươn ba.]

 ...

BẠCH NGỌC ly cung tá thế trần

Thượng đẳng tam kỳ khai Thánh-Thể
Trung thừa hạ phẩm hóa hoằng ân."

[tam kỳ khai thánh thể = ba kỳ hay ba lần hóa thân xuống thế. Một điều rõ ràng là thiên thơ không nói tới "Ngươn ba" mà xác định là "ba lần khai thánh thể", tức xuống thế 3 lần, cũng cùng một ý như đoạn trên đã xác định là Thượng Đế đã xuống thế kỳ ba, tức lần thứ ba]

(Kinh Bình Minh Đại Đạo Quyển 3, Cao Đài Thống Nhất, 1970) 
  

Cũng trong cuốn Ngọc Kinh 3 của Thiên Khai Huỳnh Đạo năm 1967, Huyền Thiên Thượng Đế còn xác định rõ "Sư Ông Cao Đại Nhất" hay "Ngôi Hai kỳ ba" đó là do chính chơn linh của Huyền Thiên "chiết [một] phần ba" chuyển thể xuống trần. "Ba mươi sáu luân châu" cũng vâng lệnh Ngài cùng hạ phàm đầu thai làm người. Họ sẽ là 36 vị Thánh Đạo Sư tương lai. Ngài giáng thế để "khai giáo" vì như đã nói trong Tam Nhật Đàn cho tới nay Thầy Thượng Đế chỉ "giáng Đạo" chứ chưa "khai giáo".  Không những vậy, Đức Ngài còn tiết lộ rằng vị Di Lạc Phật Vương thực ra là chính Đức Ngài Huyền Thiên hiện thân: "Chiết phần ba chuyển thể, Ngọc Hoàng hiện thân Di Lạc trần gian, Phật Vương là hiệu Minh Hoàng là danh".   


“Vâng THƯỢNG ĐẾ HUYỀN THIÊN mang hiệu

Thọ sắc TRỜI hiệu triệu linh căn

Quyển ba Kinh Ngọc lập văn

Khi đời đại chiến chớp giăng hoàn cầu

Tam thập lục luân châu giáng thế.

Chiết phần ba chuyển thể, NGỌC HOÀNG

Hiện thân DI LẠC trần gian

PHẬT VƯƠNG là hiệu MINH HOÀNG là danh.

THẦY lãnh lệnh xuống miền dương thế

Chờ đến ngày khánh tể triều ban

Đầu THẦY đội nặng THIÊN HOÀNG

Vai mang dương thế vai quàng kinh luân."

(Di Lạc Chủ Ngươn, Ngọc Kinh, trang 34, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)
 
       Trong Kinh Bình Minh Đại Đạo Quyển 3 của Giáo Hội Cao Đài Thống Nhất, tả kinh vào ngày 11 tháng 2 Tân Hợi (6-3-1971), do đồng tử Huỳnh Hoa tiếp điển, Đức Tây An Bồ Tát cũng xác nhận Bắc Đẩu Huyền Thiên tức Huyền Thiên Thượng Đế đã hóa thân xuống thế tại Nam Việt: "Bắc ... đẩu tinh đà ứng lộ" ... "xẹt vào Nam" ... "chiếu tường vân ngũ sắc khắp Nam Bang".
 

“Kìa hướng Bắc chòm sao Đẩu tinh đà ứng lộ
Xẹt vào Nam khắp chỗ ánh hào quang

Chiếu tường-vân ngũ-sắc khắp Nam-bang

(Kinh Bình Minh Đại Đạo, Quyển 3, Cao Đài Thống Nhứt, 1971)


          Và trong sấm thơ của Thiên Ánh Đạo Vàng cũng nói tới sứ mạng dưới thế của Đức Huyền Thiên Thượng Đế:

 
“Cao Đài Đại Đạo uy nghi thượng

Hòa Hảo Phật Giáo hướng Thiên Sơn

Thiên Linh ĐỨC CHÚA HUYỀN CHƠN 

[Đức Chúa Huyền Chơn = Huyền Thiên Chơn Võ = Huyền Thiên Bắc Đẩu = Huyền Thiên Thượng Đế]

Đạo đồng hợp đạo thắng cơn ma quyền

(Hòa Đồng Đạo Linh, điển thi 2001-2008, ấn tống 2012, tr. 80)

 
        Mẹ Diêu Trì cũng khải lộ cho biết từ năm 1967 sự hiện diện của Huyền Thiên Thượng Đế dưới thế cũng như sứ mạng của Đức Ngài trong lần thứ ba trở lại trên đất nước Việt Nam:

DIÊU ý THIÊN NGỌC giáng sanh

TRÌ tâm ĐẠO pháp KINH lai thành

KIM hồi niệm QUYỂN tròn nghĩa

MẪU đáo VI truyền BA vẹn danh

thủy MINH minh THIÊN giáng để

CỰC sơn THIÊN định KHAI còn dành

TỪ hòa ĐẠI thể ĐẠI đồng chiếu

TÔN hiệp NGHĨA chung ĐẠO bạch thanh.

(Ngọc Kinh 3, trang 43, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)

  Khoán chữ đầu trong mỗi câu của bài thơ thành: "Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn" Nó cho biết bài thơ này là từ kim ngôn của Mẹ Trời. Khoán chữ thứ ba trong mỗi câu của bài thơ thành: "Thiên Đạo Vô Vi, Minh Thiên Đại Nghĩa".  Nó tiết lộ cho biết cơ "Thiên Đạo Vô Vi" là "đại nghĩa của Ngài Minh Thiên (Huyền Thiên)".  Và khoán chữ thứ năm trong mỗi câu của bài thơ thành: "Ngọc Kinh Quyển Ba Thiên Khai Đại Đạo"Nó nói rõ thêm "màn thứ ba/ kỳ thứ ba của Bạch Ngọc Kinh" sẽ"Thiên Khai Đại Đạo" (bốn chữ "Ngọc Kinh Quyển Ba" không phải chỉ đơn thuần là quyển sách có tên là Ngọc Kinh 3 mà còn có nghĩa là "màn ba của Bạch Ngọc Kinh". Chữ "quyển" còn đọc âm khác là "quyến" với nghĩa "cuốn rèm").

 Ngoài ra, nếu lấy bốn chữ đầu trong mỗi câu của bài thơ trên để ráp lại thì sẽ được một bài thơ khác với nội dung: "Diêu ý thiên cơ, trì tâm đạo pháp, kim hồi vô niệm, Mẫu đáo vi truyền, vô thủy minh minh, cực sơn thiên định, từ hòa đại thể, tôn hiệp nghĩa chung"Và nếu lấy bốn chữ cuối trong mỗi câu của bài thơ trên để ráp lại thì sẽ được một bài thơ khác nữa với nội dung:"cơ Ngọc giáng sinh, pháp kinh lai thành, niệm quyển tròn nghĩa, truyền ba vẹn danh, minh thiên giáng để, định khai còn dành, thể đại đồng chiếu, chung đạo bạch thanh." 
 

Cả 3 bài thơ vừa nêu trên đều ẩn tàng cơ thiên mật nhiệm mà mãi đến hôm nay mới chính thức được giải mã rốt ráo.  Bài thơ chính 7 chữ có ý nói: Ta là "Diêu trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn" xác định "Thiên Đạo Vô Vi" "Đại nghĩa" của "Minh Thiên", là cơ cứu thế "lần ba" của "Bạch Ngọc Kinh"  với danh xưng "Đại Đạo" và đích thực là do "Thiên Khai".  Minh Thiên và Huyền Minh là hai phàm danh của Đức Huyền Thiên Thượng Đế khi Ngài thị thiện trên đất Trung Nguyên mà thế gian từng biết tới.
 

 Chèn thêm một chữ vào mỗi câu (chìa khóa chữ đỏ) của bài thơ 4 chữ đầu thì nội dung của bài này sẽ hiển bày như sau:
  
"Diêu ý [ẩn] thiên cơ
Trì tâm [hành] đạo pháp
Kim [ngôn] hồi vô niệm
Mẫu [lai] đáo vi truyền
Vô thủy [chung] minh minh [vòng tròn vô cực]
[Địa] cực Sơn Thiên định
Từ hòa [nên] đại thể
[Giáo] Tôn hiệp nghĩa chung
". 
 

Với nội dung của bài thơ này, Thiên Mẫu Diêu Trì đã ký thác những lời nhắn gởi tới Huyền Thiên Thượng Đế hiện đang có mặt dưới thế gian trong xác phàm, tức là nhắn gởi tới vị "Giáo Tôn" lãnh sứ mạng "hiệp nghĩa chung".  Đức Ngài cũng chính là vị "Sư Ông Cao Đại Nhất" đã nói qua.
  

 Chèn thêm một chữ [chìa khóa, màu đỏ] vào mỗi câu của bài thơ 4 chữ cuối thì nội dung của bài này sẽ hiển bày như sau: 

"Cơ NGỌC [ĐẾ] giáng sinh
Pháp Kinh [Kỳ] lai thành,
Niệm quyển [cho] tròn nghĩa
Truyền ba [lần] vẹn danh,
MINH THIÊN giáng [thế] để,
Định khai [giáo] còn dành
Thể đại đồng chiếu [viết]
Chung Đạo Bạch [Chơn] Thanh."
 
  

 "Pháp Kinh Kỳ" là "pháp đạo" luyện mạng dùng thần dẫn khí đi vòng Nhâm Đốc là 2 mạch nằm trong "kỳ kinh bát mạch".  "Truyền ba lần vẹn danh" là vẹn danh Cao Đài xuống thế ba lần trên đất nước Việt Nam. Lần thứ nhất là Ngôi Hai Ngô Văn Chiêu, để truyền trao bí pháp Cao Đài.  Lần thứ hai là Nhị Thiên Võ Văn Phẩm, để truyền trao tân pháp Cao Đài.  Lần thứ ba là để "khai Giáo" và truyền "pháp kinh kỳ" cứu vớt "đại linh căn" lập đời Thánh Đức Tân Dân. Còn "Minh Thiên giáng thế" là Huyền Thiên Thượng Đế giáng thế, là Ngôi Hai kỳ ba hay Nhị Thiên trào tam giáng thế, là Sư Ông Cao Đại Nhất giáng thế.  "Để định, khai Giáo còn dành" là còn dành chờ Sư Ông Cao Đại Nhất đặt định việc khai giáo. Sứ mạng khai giáo của Sư Ông Cao Đại Nhất được "thể đại đồng" (tức là "Quần Tiên Hội) ấn chứng. "Chiếu viết" tức là có đủ Tam Ấn của Huyền Không Thiên Thượng phê chuẩn.  Và "Giáo" đó là "Bạch Chơn Thanh" cũng là một "thể đại đồng"

 

 Toàn bộ nội dung trên là những lời mà Thiên Mẫu Diêu Trì muốn nhắn gởi tới tất cả các Sư Ông và các Minh Sư đang thừa hành phận sự kỳ ba để các ngài hiểu rõ về trọng trách của Sư Ông Cao Đại Nhất mà các ngài đã "thệ ước" giúp sức trước khi xuống thế.  Cũng như muốn bố cáo cho tất cả các đại linh căn đang chờ đợi biết rằng ông lái đò kỳ ba đã tới:  

 

"Tam Tòa Giáo đồng thanh tiến cử

Phật Như Lai danh dự trợ ngươn

Thánh Tiên toàn hải khắp sơn

Rắp nhau đề bạt linh chơn của THẦY

Trước hai ngàn hiệp vầy đại hội

Nơi Linh Tiêu thúc vội hạ sanh
Biết rằng quỷ quái cạnh tranh

Đi thì bao nỡ ở đành hay sao?

Các tinh quân xen vào thúc hối

Cùng với THẦY lo Hội Long Hoa

Trên thì sẵn bố Thiên La

Dưới giăng Địa Võng tinh tà phải kiêng

THẦY lãnh lịnh xuống miền dương thế
Chờ đến ngày khánh tể triều bang"
[xuống miền dương thế = hạ sanh trong xác phàm. Hạ sanh trước 2000 là đúng với hai mốc thời gian 1949-1967 đã trình bày qua ở đoạn trước.]

(Di Lạc Chủ Ngươn, Ngọc Kinh 3, trang 34, Thiên Khai Huỳnh Đạo)
 
*** Xin lưu ý: Quyển Ngọc Kinh 3 của Thiên Khai Huỳnh Đạo, cũng giống như Tam Nhật Đàn của cơ quan linh hiển Bát Quái Đồ Thiên, là một văn bản "trấn môn" chứa đựng những tiên tri quan trọng mà Thầy Trời đã chỉ thị là chỉ được trao vào tay của những người xứng đáng, "chọn mặt gởi vàng", mà thôi.***
 


      Và trong năm 2016, Mẹ Diêu Trì Vô Cực Từ Tôn không những đã giáng đàn  trực diện xác nhận kim thân của Huyền Thiên dưới thế chính là Hà Hưng Quốc, dưới danh gọi Hoàng Di Thiên hay Hoàng Nhị Thiên, mà còn tái xác nhận sứ mạng của Ngài cũng như xác nhận thời điểm trọng đại đã đến và cho biết là "thiên nhân hóa thể đã họp đàng".  Mẹ và Tam Giáo Tòa còn đích thân giáng hạ "Cửu Trùng" nhiều lần để khai mở tâm linh, điểm đạo, giao ấn sắc và sứ lệnh cho Hoàng Di Tử của Mẹ:

"HUYỀN THIÊN,
HOÀNG khai gia thức tử hiền nhi

HÓA kiếp trần tiếp lệnh của Mẫu Nghi

KHAI QUỐC ĐẠO hóa hình cuộc thế

GIÁO dương sanh gia hình đặng để

Pháp hiện hành chuyển vận Nam Bang

Thiên nhân hóa thể đã họp đàng

Chung qui quốc tổ con vàng gắng ghi

Lời ta nói chuyển thì CƠ LỊNH

Dạy, van xin Giác Tử họa chi hình

Bao lần trẻ đã hy sinh
...

Duyên đã định, duyên phần đã định

Chuyển cơ bài phúc lệnh của HOÀNG THIÊN

Độ nhơn sanh đặng bước lên thuyền

Từ cung của MẸ, dạ lòng của CHA."

[Khoán thủ: Hoàng Hóa Khai Giáo.  Trọn câu của 4 chữ này là "Hoàng Thiên Hóa Thân Khai Đạo Giáo Chúng"]
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 27 tháng 8 năm 2016 tức 25 tháng 7 Bính Thân, giờ Ngọ, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)


"...
Ân Thiên phúc gởi chuyển HUYỀN Nam Bang
Con trẻ hởi Đạo Vàng con nhận
Dạ chi thiên tác dạ hộ chi thiên
Dạ chi thiên tác dạ tử chi hiền
Di Thiên giả TỬ DI HOÀNG khai sứ lệnh."

[Huyền Nam Bang = Huyền Thiên của Nam Bang.  Hoàng Di Tử = Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc]
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 29 tháng 9 năm 2016 tức 24 tháng 8 Bính Thân, giờ Tí, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"Dặn đôi lời con nhớ ngày nay
Trao ấn lệnh kim bài chuyển thế
Thay lệnh Mẹ con thuyền bồng bế
Chúng sanh mê giác tử chưa hồi đầu
Con ơi giáo pháp nhiệm sâu
Con thời lãnh ngộ để về dương gian
Khai chơn lý Đạo Vàng của Mẹ
Giúp nhân sanh thoát cảnh đảo điên
Hóa thần, hóa thánh, hóa tiên
Hóa thân bồ tát để về nhân gian.
Nhi nhi tử an lành cuộc thế
Thương gia sinh Mẹ bồng bế con mà
Di gia khai Hoàng Tử đáo lai
Thương con trẻ ngày ngày chưa an giấc
Thương con trẻ bận lòng nhi tử
Chỉ cuộc cờ Mẹ mãi thử con thơ
Ẩn thân phút dạ đợi chờ
Thiên nhiên dĩ định cuộc cờ Nam Bang.
Trời Cha đất Mẹ xốn xang
Hóa Thần hóa Thánh kêu đàn con thơ
Dương Giác Tử bàn cờ Tiên QUỐC
Ngộ ngộ hình,ngộ ngộ hình, ngộ lắm con ơi
Làm sao nói hết ĐẠO TRỜI
Làm sao nói hết một đời chơn minh."

[Hoàng Tử = Hoàng Di Tử. Dương Giác Tử = đức con đã giác ngộ ở dương gian. Tiên Quốc = ông tiên tên Quốc]
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 31 tháng 10 năm 2016 tức 1 tháng 10 Bính Thân, giờ Dậu, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"Đạo là con đường tìm lại chính mình. Tâm thanh tịnh là giải thoát. Từ lâu xưa các vị tiền nhân cũng dùng pháp đại thừa để cứu độ quần sanh. Trải lòng với tất cả nhân sanh, không phân biệt, chuyển hạnh lành từ bi đến với tất cả nhân loài. Dùng pháp âm và tâm thanh tịnh để hóa chuyển. Chúng ta phải cầm chắc con đường đạo lý để hoàn thiện chính bản thân mình, giúp cho nhân loại thoát cảnh mê tâm. Muốn hàng phục ma giới, ta phải hàng phục chính bản thân mình. Ứng hóa tùy hình, phải trải lòng khắp với tất cả nhân loài.  Đạo nhiệm mầu ẩn chứa, pháp luôn hiện hành, tùy theo tâm nhân sanh mà thấu nhận."
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 6 tháng 11 năm 2016 tức 7 tháng 10 Bính Thân, giờ Mão, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

         Các đấng của Tam Giáo Tòa cũng ngày đêm bên cạnh để dẫn dắt Hoàng Nhị Thiên tu tập bí pháp vô vi kỳ ba để sau này ban pháp báu cứu độ chúng sanh.  Và cuối cùng công nhận sự thành tựu của Ngài:

"Tiếp bước pháp công thượng thới hòa
Bình tâm thanh tịnh tiếp Vua Cha
Thi văn đạo giáo kinh Mạnh, Khổng
Thăng tiến đi lên hiệp bốn nhà.
Bổn lai hoàn tánh thể vô vi

Chúa Ngọc thượng căn đắc đại bi
Kinh luận luật thời thơ chứng đạo
Chúa Trời soi lối Pháp Diêu Trì
.
Tịnh Pháp căn thiên định Ngọc Hoàng
Cửu Trùng cung đỉnh chỉ vua ban
Pháp tu đúng luật tam triều viết
Định việc đạo kỳ Minh Chiếu quang.
Liên Đại chư thiên hiện hữu liền
Kỳ ba đón đợi hiện Hoa Liên
Tam Thanh khẩu bạch xuất ngôn giáo
Kỷ Đại Lôi Thiên tỏa khắp miền.
Chu kỳ định ước hiệp vua tôi
Lôi Chấn Ngũ Đầu định thứ ngôi
Đại Đạo Ngũ Chi chào đại cuộc
Hườn minh vũ trụ ngũ kỳ lôi.

(Hành Trình, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo tràng Tắc Vân, nhận thông điệp và gởi lên Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 13 tháng 12 năm 2016 tức 15 tháng 11 Bính Thân) 

"Thiên Đình chiếu rọi sáng Thanh Tam
Đắc quả kim thân chứng đắc phàm
Hầu, tướng, công, tôn, Thiên hậu Khảm
Lâu Luy chín phẩm triệu Già Lam.

Câu ly tiên thánh chúc: Thanh Sơn
Quốc Mẫu nước Nam hiệu Mẫu Đơn,
Thiên Tướng Quan Âm Di Lạc QUỐC
Qui Càn cung Cấn Khảm hoành sơn."

(Hòa Chung Tam Thể, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo tràng Tắc Vân, nhận thông điệp và gởi lên Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 15 tháng 12 năm 2016 tức 17 tháng 11 Bính Thân) 

"Tranh đất Đông Phong gió đại trào
Thánh Minh xuất chúng chuyển đồ lao
Bao năm Mẫu pháp Ngài tu định
Xây chuyển căn duyên nguyện chí cao.
Ẩn pháp bí truyền mở đạo thâm
Rừng sâu tầm thánh biển truy tầm
Chuyển về Tam Giáo qui tam cõi
Hiệp ngữ kinh luân kiến đắc tâm.
Mong tỏ ngộ hồi trào ứng kịp
Hẹn kỳ ba mở Hội Long Hoa
Giữ nhân duyên tu tập bao ngày
Giờ thấy rõ cơ huyền điểm chỉ.
Hiệp tứ trụ long, lân, qui, phụng
Ngũ Hành Thiên chuyển điển tam trào
Chấn Ngũ Đầu hiệp nghĩa ngươn lai
Nay tái bút bảng ghi cơ đạo.
Thiên xuất hiện vầng Dương sáng mới
Đủ căn duyên lãnh ngộ ân này
Rõ từng ngày tu tập huyền vi
Cơ diệu pháp tường minh hẹn ước.
Không tính trước lập thân cầu đạo
Chữ huyền vi cơ đạo mầu trì
Giờ khởi hành hiệp nhất Nam Thiên
Qui Tam Giáo đáo lai Trùng Cửu."

(Hoàng Đạo, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo tràng Tắc Vân, nhận thông điệp và gởi lên Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 17  tháng 12 năm 2016 tức 19 tháng 11 Bính Thân) 

"Chuyển thể tánh chơn linh hiệp hòa

Kỳ Khai Hội Thánh đón Long Hoa

Pháp tu định ước khai Huỳnh Đạo

Đại Đạo sinh linh thiết định xa.

Tỏa ngộ Thiên Môn nhận điển thông

Quan môn thiết lập giữ Chơn Không

Giác linh tánh thể kỳ ba chuyển

Đàn rõ pháp môn hộ Đại Đồng.

Rồng Tiên Phật chiếu hạ đồ thơ

Sanh chúng hiện thời hiệp tứ thơ

Thính giác thủ thiên về QUỐC Việt

Chúc mừng chơn đạo HƯNG HÀ Sơn.

Trở về ngự lãm tỏa vài hôm

Nay đáo vạn linh chuyển giác thơm

Từ tạ MH, HH, HƯNG QUỐC chủ

NGỌC HOÀNG tiến đến điện Càn Khôn.  

Quyển kỳ pháp truyền tay tâm ấn

Phật Pháp Tăng liên Đại Đạo kỳ

Định hình rồi gia bảo tầm ghi

Lời được rõ kinh thư luật giới."
(Chuyển Thế, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo tràng Tắc Vân, nhận thông điệp và gởi lên Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 23   tháng 12 năm 2016 tức 25 tháng 11 Bính Thân) 

       Trong thời gian đăng sơn Mẹ Kim Mẫu Diêu Trì cũng đã nhiều lần gởi thượng giới sứ giả đến Thổ Đầu Sơn thúc giục Hoàng Nhị Thiên tích cực hơn trong công việc vô vi cho kịp cơ kỳ vận hành:

"(tiếng thiêng)__ mong Người hãy gắng lo _(tiếng thiêng)__ gấp rút công việc của Đại Đạo ___(tiếng thiêng)_ vì máy tuần hoàn vận hành xoay chuyển __(tiếng thiêng)__ kiếp nhân hạ phải __(tiếng thiêng)_ ứng hóa cho kịp chu kỳ mở khai và __(tiếng thiêng)__ sự chuyển vận của Nam Quốc __(tiếng thiêng)__.  Hổ Di con giả từ Hoàng Di Thiên _(tiếng thiêng)_.  Nam Mô A Di Đà Phật." 
[Hổ = Hổ thẹn. Di = vô ảnh vô hình. Hổ di là một cách xưng hô khiêm nhường của một vị trợ thủ của  Mẹ Diêu Trì trên cõi Tạo Hóa Thiên.  Vị này đọc nguyên văn (tiếng thiêng) huấn từ của Mẹ rồi dịch qua tiếng Việt.]
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 06 tháng 9 năm 2016 tức 06 tháng 8 Bính Thân, giờ Mão, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"_(tiếng thiêng)__Hổ Di con có đôi lời trình thưa qua. _(tiếng thiêng)_Từ trên Thiên Tòa của Cha _(tiếng thiêng)__và Thiên Mẫu _(tiếng thiêng)__chuyển cơ lệnh _(tiếng thiêng)__mang xuống thế gian này._(tiếng thiêng)_ Các cung các cõi _(tiếng thiêng)__và các _(tiếng thiêng)__hàng hàng thiên lệnh _(tiếng thiêng)__có mặt trong cõi nhân gian _(tiếng thiêng)__cùng nhau _(tiếng thiêng)__hòa hiệp _(tiếng thiêng)_để về chung lo trong cơ cuộc của Thánh Triều. _(tiếng thiêng)__Nay trên thiên lệnh _(tiếng thiêng)__Cha ban ơn lành _(tiếng thiêng)_cho Hoàng Di Thiên của Mẹ _(tiếng thiêng)__triệu hồi tất cả hàng chơn linh tử _(tiếng thiêng)__để _(tiếng thiêng)_ chư thiên đang chờ để phục lệnh _(tiếng thiêng)__Họ đang chờ Ngài. Mô Phật."
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 30 tháng 11 năm 2016 tức 02 tháng 11 Bính Thân, giờ Mão, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"_(tiếng thiêng)_Hổ Di con xin chuyển đôi lời đến _(tiếng thiêng)_ Hoàng Di Tử của Mẹ: _(tiếng thiêng)__Cơ chuyển vận của Nam Triều, _(tiếng thiêng)_cơ qui nhất _(tiếng thiêng)__của _(tiếng thiêng)__Quốc Tổ, nên _(tiếng thiêng)_các _(tiếng thiêng)_triều đại _(tiếng thiêng)_của nước Việt _(tiếng thiêng)_trở về _(tiếng thiêng)_ phục lệnh chiếu,_(tiếng thiêng)_ phục lệnh _(tiếng thiêng)_Minh Chúa,  _(tiếng thiêng)_nên _(tiếng thiêng)_trao ấn lệnh lại, _(tiếng thiêng)_cùng tất cả _(tiếng thiêng)_để _(tiếng thiêng)_phò Minh Chúa chuyển xây _(tiếng thiêng)_ ấn lệnh đã được chuyển giao _(tiếng thiêng)_và hàng chư thiên tam tử ­­­_(tiếng thiêng)_ tất cả cũng hội tụ về _(tiếng thiêng)__để phò _(tiếng thiêng)__ngôi Minh Đế.  Xin _(tiếng thiêng)_Thiên Hoàng _(tiếng thiêng)_ thu nhận để các vị _(tiếng thiêng)_ làm tròn _(tiếng thiêng)_sứ mạng của mình. _(tiếng thiêng)_. Nam Mô A Di Đà Phật."
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 3 tháng 12 năm 2016 tức 05   tháng 11 Bính Thân, giờ Mão, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)


       Và trước khi Hoàng Di Thiên xuất sơn Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu, Cha Huyền Khung Cao Thượng Đế, và Hồng Quân Thượng Tổ cũng không quên ân cần căn dặn với tất cả tình thương của các đấng Đại Từ Tôn:

"Hiền nhi là con của Mẹ, cầm sắc lệnh đi vào đời để cứu nhơn sanh, máy tuần hoàn vận hành, thiên đạo vận chuyển, tất cả các hiền nhân cũng hội tụ về dùng chánh pháp để độ đời, dùng thể thanh tịnh thể chơn như để đi vào nhân sinh để hóa chuyển, để giữ lại dòng chánh pháp được lưu truyền mãi. Tất cả hàng thiên binh thiên tướng, chư thần hộ pháp lúc nào cũng hộ đàn và bảo vệ cho tất cả hàng linh tử của Mẹ được an bình trong chánh pháp. Tất cả chúng ta phải thắng được nguồn ma, đừng để những ý niệm của tâm phát khởi mà dẫn dắt ta đi con đường mê lầm. Phải đủ sự tỉnh giác minh trí và lòng thanh tịnh mà vững bước đi vào con đường chuyển thế.  Tất cả __(tiếng thiêng)__ phải bị đào thải theo nhân duyên của chính nó." 
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 27 tháng 9 năm 2016 tức 27 tháng 8 Bính Thân, giờ Dậu, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"Hoàng Nhi phục lệnh!
Thiên dĩ định Thiên nhiên thời dĩ định
Nay gia tử con về chấp lệnh
Hóa Thiên Nhân, hóa thể Thiên Nhân
Cùng chung họp mặt Thánh Thần
Chuyển xây cơ Quốc Nam phần con a
Nay tất lệnh Cha già phán quyết
Con giữ gìn đạo cả nơi tâm
Con giữ gìn mỗi bước âm thầm
Chờ một cảnh con tầm bớ trẻ
Cha gởi trẻ đôi lời như thể
Hóa phép mầu Ta kể con nghe
Nay Trời đã vẹt màn the..."

(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 17 tháng 11 năm 2016 tức 18  tháng 10 Bính Thân, giờ Tí, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"Đạo của Trời tất lệnh phải hành in
Hòa cùng thế trọn tình Thiên Ý
Tương nhân sinh đôi lời Ta dạy chỉ
Hóa phép mầu hóa hiện trần gian
Đủ cơ duyên khai ánh Đạo Vàng
Hóa sanh xuống thế mở màn Nam Bang
Cha đã dạy lời vàng Thiên Quốc
Mẹ bảo gìn con liễu cơ duyên
Nay con đã ngộ chơn truyền
Thiêng liêng dĩ định nhi hiền gắng lo
Một lần chót con dò cho kỷ
Một lệnh truyền ngụ ý Tiên Gia
Một lệnh Thiên xây dựng tháp tòa
Một cơ QUỐC còn dò Minh Chúa
Dương gia tử con về quá cảnh
...

Hiển cơ bài con nhận lãnh gia xinh
Đạo đời trẻ phải hy sinh
Tròn câu ước nguyện tâm minh con à
... giáng thượng Mẹ già chờ đợi
Hóa cuộc hình Mẹ gởi nơi con
Bàn tay Mẹ sắp đặt vuông tròn
Cho con gia tử di đài hiển thân
Cùng chung hiệp mặt quân thần
Giúp xây cơ QUỐC Thánh Nhân đáo hồi
Gia tử giả duyên thời di tử
Dĩ cuộc cờ quá bước trần gian
Dạ sinh thiên hóa cảnh trần hoàn
Con ơi hởi tâm vàng Ta gởi
Con ơi hởi Mẹ hiền đã tới
Giúp cho con gia tử di thinh
Giúp cho con hóa cảnh hiện sinh
Thay lệnh Mẹ hóa hình cuộc thế
Thay lệnh Mẹ con thuyền bồng bế
Đạo với đời chẳng kể chi chi
Dạ sinh thiên gia tử hành y."

(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 17 tháng 11 năm 2016 tức 18  tháng 10 Bính Thân, giờ Tí, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển xuất khẩu)

"Hạn cuối cùng kỳ chót đáo lai
Hòa cùng thế giúp đời thạnh trị
Mong sanh chúng tâm thời suy nghĩ
Tầm đạo mầu chánh lý huyền vi
Đạo Thiên Tiên khai ánh Huỳnh Kỳ
Tầm cho rõ!
...
Tầm cho rõ con tầm cho rõ
Chuyển cơ pháp huyền vi hóa hiện
Chốn trần miền gia thức tử hiền nhi
Giáo dương sanh buổi cuối kịp kỳ
Cho nhân loại còn tùy phúc dạ
Lời tiên thánh đôi câu hối hả
Kiếp nhân loài khổ lụy lắm đa
Chuyển cơ bài phúc lệnh Hoàng gia
Cho nhân thế hiểu đàn cơ Quốc."

(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 11 tháng 12 năm 2016 tức 13  tháng 11 Bính Thân, giờ Dần, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển Hồng Quân Thượng Tổ, xuất khẩu)


        Cuối cùng rồi thì cũng phải tới lúc xuất sơn.  Trong đàn pháp kéo dài 3 ngày Tết năm Đinh Dậu, Thượng Thiên đã trao một cuộn sắc ấn dài hơn 20 mét với khổ rộng 1/2 mét đầy chữ thiêng và linh phù của các đấng vô hình giáng đàn chấp bút (sau này trao lại cho Sư Tân của Bửu Sơn Kỳ Hương), mở đầu với bốn câu:

"Chưởng Quản Thiên Tôn

Khai Đàn Minh Chiếu

Hồng Bàng Lập Hội

Định Việc Triều Ca."

(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 30 tháng 1 năm 2017 tức Mùng 3  tháng Giêng năm Đinh Dậu, giờ Mão, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển)

       Một sắc chiếu chữ thiêng cùng chữ Việt do Bát Nương Di Hoa Kim Hải của Diêu Trì Cung, là vị thay mặt Hoàng Nhị Thiên để xử lý các công việc trong vô vi, đã đích thân chấp bút và trao vào tay Ngài văn bản với nội dung "trao quyền cứu thế", cùng với một bố cáo trong vài ngày sau đó.

"Hoàng Thiên Đại Từ Phụ,

Chí Tôn Đại Từ Mẫu,

Tam Giáo Thánh Tòa Vị,

Chuyển bút pháp trao về nhân hạ

Chuyển huyền vi ấn định tam kỳ

Chuyển Đạo mầu hiệp với nhân sanh

Chuyển bửu pháp khai Huỳnh Kỳ Đạo

Lệnh Tam Giáo hiền nhân y thảo

Nhứt bổn hành hiệp nhất tam thiên

Tiếng nhân sanh hóa hiện trần miền

Giờ Đại Đạo chuyển quyền cứu thế."
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 20 tháng 3 năm 2017 tức 23 tháng 2 năm Đinh Dậu, giờ Dần, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển Bát Nương Diêu Trì Cung Di Hoa Kim Hải.)

"Ngọc Đài Minh Chiếu

Đế xuất Nam phần

Hoàng vị định ngôi
Thượng an chư quốc.

[Khoán thủ: Ngọc Đế Hoàng Thượng]

  

Diêu pháp trần miền

Trì cơ Đại Đạo

Kim ngôn xuất bạch
Mẫu ngự trần gian.

[Khoán thủ: Diêu Trì Kim Mẫu]

Tam qui nhứt thể

Giáo đạo Nam Phương

Thánh ngôn chi lệnh
Tòa Bạch ngũ quan.
  

[Khoán thủ: Tam Giáo Thánh Tòa]

  

Tình thương Đại Đạo

Trở về Nam Bang

Giáo khắp trần miền

Khai nền Kỳ Đạo 

Hồi qui Tam Giáo.  

Lệnh chuyển muôn phương

Trở về đại cực

Kim ngôn ứng xuất

Hiệp pháp đời tân

Bố khắp trần miền

Điển huyền Kim Hải."
(Đàn Tháp Bảo Đà trên đỉnh Thổ Đầu Sơn, ngày 26 tháng 3 năm 2017 tức 29 tháng 2 năm Đinh Dậu, giờ Dần, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Hải Huyền tiếp điển Bát Nương Diêu Trì Cung Di Hoa Kim Hải.)

       Và một bài thiên thơ của Tam Thanh Thánh Đế do một Tinh Hoa Hiệp Thiên tại Cà Mau tiếp điển chuyển tới.

"Tam Thanh Thánh Đế chuyển bài

Huỳnh Khai Đại Đạo hội thiên bay

Ấn chứng tam kỳ khai Bửu ấn

Hồng Bàng đất Việt lập Long Hoa.

Tam cõi vô vi đã luận đàm

Thanh quang hồng điển chiếu kỳ tam

Thánh Minh xuất ngạch Thiên Triều lớn

Đế chuyển bài tam ấn đại tam.
  

Huỳnh, Hồng sắc mục chỉ cầm tay

Khai ấn Huỳnh Long rõ đức tài

Đại Đạo hội về Thiên Bửu ấn

Thiên đài bay lượn chuyện Rồng Mây.

 

Ấn chỉ Thiên ban kim ấn bài

Chứng minh vô lượng chuyển Đông Lai

Tam kỳ chuyển động vùng thiên mới

Khai bửu ấn thiên bát cửu bài.
 

Hồng Quân Lão Tổ đáo tường minh

Bàng điệp rõ thiên ấn chứng minh

Đất Việt chuyển mình về võ trụ

Lập Long Hoa Hội cứu quần sinh."

(Thiên Đạo Vô Vi, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ, đàn Tắc Vân, nhận thông điệp và chuyển đến Thổ Đầu Sơn, ngày 3 tháng 4 năm 2017 tức ngày 6 tháng 3 năm Đinh Dậu)

 Trong cuốn Kinh Sấm Ngũ Hồ, trang 88, xb năm 2001, Vô Danh Bần Sĩ cũng cho biết trước sự xuất lộ của Ngôi Hai trào tam vào năm Dậu:
 
"TAM
niên thủy kiệt với sơn băng
GIÁO khuyên sanh chúng liệu ăn năn
QUI y tam bảo tu hiền thánh
NGUYÊN lai bổn tánh có chi bằng.

NGỦ niên lục ngoạt khổ sanh linh
CHI xiết niềm đau khổ chiến chinh
PHỤC đáo, sơn đài Thiên Tử xuất
NHẤT thống Dậu niên viếng Thái Bình."
(Kinh Sấm Ngũ Hồ, trang 88, 2001 của Bần Sĩ Vô Danh)

 

Hai chữ "Thiên Tử" hay "Con Trời" ở đây không phải để chỉ một vị "Vua" mà là để chỉ Đức "Ngôi Hai". Chúa Jesus là Chúa Trời xuống thế. Vì là chiết linh quang hạ phàm nên Chúa Trời dưới thế được tôn danh là Ngôi Hai.  Jesus là hiện thân của Chúa Trời nhưng đồng thời cũng là Con của Chúa Trời, nói cách nào cũng đúng. Con là vì từ Chúa Cha mà sinh ra. Đức Ngài Ngô Văn Chiêu là Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống thế lần thứ nhất trên đất nước Việt Nam. Vì là chiết linh quang của Ngọc Đế nên Đức Ngài được tôn danh là Ngôi Hai (chính xác hơn là Ngôi Hai trào một). Đức Ngài Võ Văn Phẩm là Ngọc Đế xuống thế lần hai trên đất nước Việt Nam.  Vì là chiết linh quang của Ngọc Hoàng Thượng Đế nên Đức Ngài được tôn danh là Nhị Thiên (Ngôi Hai trào hai).  Rồi Ngọc Đế thêm một lần nữa xuống thế lần ba trên đất nước Việt Nam. Vì cũng là chiết linh quang của Thượng Đế nên Đức Ngài được tôn danh là Hoàng Nhị Thiên (Ngôi Hai trào tam); Hoàng Nhị Thiên có nghĩa là Ngôi Hai của Hoàng Thiên. Cho nên ba chữ "thiên tử xuất" không phải nói một vị vua xuất lộ mà là Ngôi Hai xuất lộ.  Chính xác hơn là Ngôi Hai trào tam Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc xuất lộ, căn cứ theo thông tin của các bài thiên thơ đã dẫn qua.  Tinh thần "Đạo" của tám chữ khoán thủ "Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chi Phục Nhất" cũng cho thấy rõ ràng ý nghĩa "Thiên Tử" là "Con Trời" là "Ngôi Hai" là "Nhị Thiên" là "Hoàng Nhị Thiên".  

    

 Chiếu theo từ điển thì "phục" là trở lại, "đáo" là đến nơi, còn "sơn đài" là  kỳ đài trên núi.  Đức Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc đích thực đã ngẩu nhiên "phục đáo" vào năm Bính Thân và xuất lộ từ "sơn đài" vào năm Đinh Dậu.  Ngài đã từ chốn Kỳ Hoa trở lại quê hương, ngẫu nhiên đăng sơn rồi xây Tháp Bảo Đà trên núi Thổ Đầu Sơn (thiết lập sơn đài), được các đấng Tam Thanh dạy bí pháp vô vi và các vị chơn sư vô hình của Tam Giáo Tòa trợ giúp tu luyện, lưu lại tịnh tu một khoảng thời gian trên núi, tiếp nhận cẩm nang thư và sứ lệnh, rồi xuất sơn vào đầu năm Đinh Dậu.  Không những Ngôi Hai trào tam "xuất lộ" năm Đinh Dậu mà đồng thời Ngài còn "xuất dương" trở ra hải ngoại trong năm Đinh Dậu để "khai giáo" lập nền "Quốc Khách Đại Đạo" cho cơ "nhất thống" về sau cho nên mới có "viếng Thái Bình" (Thái Bình Dương). Tiên tri Sấm Ngũ Hồ quả nhiên đã ứng hiện!     

 Trong Kim Cổ Kỳ Quan của Hòa Hảo , Quyển 3, Cáo Thị Phần 1, trang 12, cũng nói đến Hoàng Nhị Thiên (Ngôi Hai kỳ ba, Nhị Thiên trào ba) và vai trò của Đức Ngài.

 

Dĩ hậu lập đời phân Trời phân Phật

NHỊ THIÊN túc vật nội Phật ngoại Trời

Tây đặt thuận thời … “
(Kim Cổ Kỳ Quan, Quyển 3, Cáo Thị phần 1, trang 12, Hòa Hảo)
 

Hoặc trong Quyển 7, Thừa Nhàn, Phần 1, trang 3, cũng có nói:

  

Từ ngôi THÁNH CHÚA ra làm

Một muôn năm chẳng ngoài phàm NHỊ THIÊN

Phân chư lịch sách Đại miên

Bất tùng Thánh Giáo NHỊ THIÊN [thì] tiêu điều.

Văn chương thiên cổ thiệt nhiều

Bất tùng Thánh Đạo tiêu điều lòng khi.”
[Từ ngôi Thánh Chúa ra =  từ ngôi Thượng Đế ra = Ngôi Hai, Nhị Thiên]

(Kim Cổ Kỳ Quan, Quyển 7, Thừa Nhàn phần 1, trang 3, Hòa Hảo)
  

 Kim Mẫu Diêu Trì Vô Cực Đại Từ Tôn còn cho biết luôn cả những thông tin liên quan đến "lý lịch cá nhân" của Sư Ông Cao Đại Hoàng Nhị Thiên như là tên họ, học vấn, kiến thức, tánh chất, phong cách sống ... cũng như đặc tính địa hình chung quanh "sơn đầu" nơi mà Đức Ngài  bất ngờ tiếp nhận sứ lệnh "khai giáo"  do Cha Thượng Đế, Mẹ Diêu Trì và Tam Giáo ủy thác, đúng với câu "phùng sơn mới hiểu lý chơn hòa", và rồi tiếp nhận "pháp thiền" do Thiên Thượng "ban sách báu" cùng với "lãnh thiên thơ" để mà phối hợp với Cơ Thiên.

 
"Vàng nhờ sông lộ ẩn Cơ Thiên

[Vàng = Hoàng = Hoàng Thiên.  Sông = Hà bộ thủy . Lộ = đường đi. Hà lộ = chữ Hà hỏi đường (hà phương) là chữ Hà bộ nhân 何 . Sông lộ = xác định chữ Hà mà phải là Hà bộ nhân. Mà Hà bộ nhân cũng là Hà của họ Hà. Toàn câu: Hoàng Thiên nhờ Hà ẩn cơ thiên. Có nghĩa là Hoàng Thiên ẩn trong xác thân họ Hà, đó là cơ thiên.  Ý câu: Hoàng Nhị Thiên (Ngôi Hai trào tam) họ Hà]

Ngọc cậy sơn đầu đợi Pháp Thiền
[Ngọc = Ngọc Đế. Nghĩa câu: Ngọc Đế lên đỉnh núi cao đợi nhận pháp thiền. Ý câu: Hoàng Nhị Thiên, Ngôi Hai trào tam, lên đỉnh núi cao nhận pháp thiền]

Nước chảy há mòn thân bác lãm

Non chày nào mõi phận thâm uyên

[Hoàng Nhị Thiên có học vị và kiến thức, trải nhiều thử thách trong cuộc sống]
Tam khai định Đế hồn QUYÊN Thánh

[Điển tích Vọng Đế, vua Đỗ Vũ chết hóa thành chim đỗ quyên vọng quốc, như câu "Đỗ Vũ than đầu minh quốc quốc" hay "Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc" hay "nhớ nước đau lòng con quốc quốc". Do đó chữ "hồn Quyên Thánh" cũng đồng nghĩa với "hồn Quốc Thánh"]
Tứ chuyển đồ vương xác QUỐC Tiên

[Trải qua ba lần khai bốn lần chuyển trở thành "hồn Quốc Thánh", "xác Quốc Tiên"]
Xử sự thân nhân tân tuyệt hiếu

Thành gương Nghiêu Thuấn đáp lương hiền.

Hiền thần ẩn tánh lánh danh nhơ

Trung nghĩa bần thanh giữ cõi bờ

Thiên ý giáng trần ban báu sách

Nhơn tâm tại thế lãnh Thiên Thơ."

(Ngọc Kinh 3, trang 42, TKHĐ 1967)
... 

"Tịnh sơn đỉnh một vùng sơn thái
[trên một đỉnh núi yên tỉnh của vùng cao nguyên]

Sơn liên đầu một dãi thủy ba
[núi liền đầu chập chùng vây quanh, sáng chiều mây mù dàn trải như sóng nước]

Phùng sơn [mới] hiểu lý chơn hòa

[Hoàng Nhị Thiên lên núi rồi mới hiểu ra sự việc sứ mạng khai giáo của mình trong kiếp này]
Con ơi còn đó chờ ra bao giờ!"
[Tại sao Thiên Mẫu than thở? Vì như đã nói Ngôi Hai trào tam sanh ra giữa hai mốc thời gian 1949-1967 cho nên lúc thiên thơ này ban ra thì kim thân Ngài còn là một đứa bé cho nên tính đến thời điểm mà Ngài xuất lộ thì còn lâu lắm.]

(Ngọc Kinh 3, trang 48, TKHĐ 1967)

 

      Ngoài những chi tiết do chính Thiên Mẫu khải lộ từ năm 1967, như cho thấy trong bài thánh giáo trên, còn có rất nhiều thiên thơ và sấm giảng từ nhiều tôn giáo cũng đã khải lộ, ở những thời điểm khác nhau, rất nhiều chi tiết về Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc, về nền Đại Đạo do Đức Ngài khai giáo và dìu dẫn, về thân phận tâm linh và vai trò hữu vi cùng vô vi của Đức Ngài, về đạo lực và căn cơ cũng như những hoạt động vô hình giữa Đức Ngài với các cung các cõi.

"Điện Ngọc Kim Loan đáo Cửu Trùng
HÀ THIÊN tỉnh giấc đáo gia trung

[Khi Mẹ Diêu Trì ngự xuống điện thờ thì ông Thiên họ Hà tức khắc tỉnh giấc quay đầu về ngôi xưa]

Trùng Cung giác Mộc Lôi Thiên định
[Lôi nói theo quái là Chấn. Mộc Lôi Thiên = Mộc Chấn Thiên = ông Trời phương Đông, phàm gian tôn xưng là Đông Mộc Công hay ông Trời chưởng quản khí Dương phương Đông.]

Hoàng Ngọc Diêu Cung địa Chấn Hùng.
[Hoàng Ngọc = Cha Ngọc Hoàng. Diêu Cung = Mẹ Diêu Trì]

Nam QUỐC Ngọc Đài Hoa trở lại

[nam nhân tên Quốc của Bạch Ngọc Đài.  Trở lại Hoa Kỳ hoặc trở lại từ Hoa Kỳ]

Ngũ Cung Hoàng Giác lệnh Thiên khai
[Ngũ cung = nói theo ngũ hành là cung mang số 5 trung ương hoàng thổ]

Hoàng trung định Đông Cung Bạch Đế

[Đông = Đông Mộc Chấn. Bạch Đế = Đế Bạch Ngọc Cung]

Địa thiên khai mở cửa Đông Lai.

Về chấn đại điệc niên tam thể

Lai trào kha vịnh NGỌC ĐẠI LIÊN

Đáo Hoa trung Thánh nhập Tam Tòa

[Đáo Hoa trung = trở lại trung tâm Hoa Kỳ]

Thiên Bửu báu NGỌC TÒA xuất thế.

Châu NGỌC bích xuyên đầu ĐẠI ĐẾ

[xuyên = sông = hà đồng âm họ HÀ.  Ngọc = Ngọc Đế.  Đại Đế = Đế Đại La Thiên]
Vịnh tay tiên vịnh thể vô hình

Trào Bách Tùng Sơn Bảo vô vi
[cụm chữ "Bách Tùng Sơn Bảo" liên quan đến Sấm Trạng Trình "phân phân tùng bách khởi" và "Bảo Sơn Thiên Tử xuất". Thiên Tử đây là "con trời" là "Ngôi Hai, Nhị Thiên" không phải vua.]

Long Hoa Hội NHỊ THIÊN khai đạo.

Thiên niên kỷ Chín Rồng hoa gấm

Dịch chân kinh lộ QUỐC Nam Thiên

[dịch nghĩa cho đúng chân kinh (chỉ Sấm Trạng) sẽ ứng lộ QUỐC của trời Nam Việt]
Trường vô vi công lực thần kỳ

Hoàn đơn giác lưu ly hòa thể.

Thâu gồm bốn chấn đại càn khôn

Hỏa lực lưu châu đấng Mẫu Tôn

Nghiêu Thuấn địa khai miền hạ giới

Trùng Cung đỉnh thể Đại Từ Tôn.

Chiếu viết hồi trào lai ngoại quốc

...

Hầu vương DI LẠC vòng Hoa Mỹ

[vòng Hoa Mỹ = vòng qua Hoa Kỳ nước Mỹ]

Triều đại tam ngươn quyết định rồi.

Đại Đạo Kỳ Thiên bút còn ghi

ĐẠI LÔI ÂM HẢI HỘI LIÊN TRÀO

Sông Cửu Khúc ĐỒ THIÊN đã định.

Cứu nhân loại thoát vòng sanh tử

Điển thông thiên điển hội Tam Gia

Thế CHÍ TÔN đại lực THIÊN TRIỀU

Ra lệnh mới thiên thần giúp lực.

Này huynh trưởng lo toan đúng lúc
[huynh trưởng = Đức Ngôi Hai trào một là huynh trưởng của Ngôi Hai trào tam]

Cửa Trào Tam vừa mở hôm qua
Theo CHÍ TÔN đức cả CAO ĐÀI
NGÔ, Chấn QUỐC,
TRỜI THƯỢNG ĐẾ.
[Cả hai người Ngô Văn Chiêu và Quốc, đều là Ngôi Hai chiết linh quang của Trời Thượng Đế.]

Nay cho biết cơ trời hé lộ

Thập tam ngươn vừa đợi vừa trông

Điển Đại Lôi cho biết Cửu Trùng
[Đại Lôi = Lôi Âm Đại Na Di]

NỀN ĐẠI ĐẠO KỲ BA ĐÃ MỞ.


Lập hội mới
,
Ngài KHAI ĐẠI ĐẠO
Đúng Mồng 2 Tháng 8 Cơ Trời
Phải chay trường tịnh giới nghiêm minh

Theo luật định TÒA ĐÌNH xuất thế.

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Chơn Kinh Ngọc Đế Ma Ha, ngày 1 tháng 1 năm Đinh Dậu  2017, Bửu Sơn Kỳ Hương)

  

"GIÁO CHỦ TIÊN ÔNG thể NGỌC HOÀNG

Chơn truyền khắp nẻo về Nam Bang

Hồng Bàng chuyển động Tam Trào điển

Vô Lực Vô Vi điển NGỌC HOÀNG."

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Bạch Chơn Giáo, ngày 12 tháng 1 năm Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương)
   

“Cảnh trí thiên nhiên trước sắp bày
Huyền vi lố bóng ĐẠO HOẰNG KHAI
[Thầy đã giáng đạo từ năm 1924 và Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ hoằng khai từ năm 1926 thì đến thời điểm tả kinh năm 1967 không thể nói là "lố bóng đạo hoằng khai" được. "Kinh Bình Minh Đại Đạo" cũng không phải là "khai lập Bình Minh Đại Đạo". Vì vậy, "huyền vi lố bóng đạo hoằng khai" phải là ám chỉ cơ Thiên Đạo Kỳ Ba Vô Vi ngày sau.]
Non sông bốn mặt, Trời soi sáng
Nhơn vật mười phương đất chuyển xoay.
Sứ mạng tam kỳ trao Việt QUỐC

Chủ quyền nhứt thống lập CAO ĐÀI

[Sứ mạng lần ba trao cho người Việt tên Quốc ;  Việt Quốc không phải là Nước Việt vì Ơn Trên chưa bao giờ dùng chữ Việt Quốc để chỉ đất nước Việt Nam mà dùng chữ Nam Phương hay Nam Bang.  Hơn nữa trao quyền chủ sự của sứ mạng thành lập việc nhứt thống Cao Đài là trao cho một "người" chứ chẳng ai trao cho một "quốc gia" cho nên khẳng định "Việt Quốc" là "người Việt tên Quốc".]
Hạ Ngươn sĩ tử mau mau bước
Ổn định càn khôn đã đến ngày.”

(Điển thi của Ngôi Hai Ngô Minh Chiêu, đàn giờ Tuất ngày 14 tháng 3 năm Đinh Mùi  hay ngày 23 tháng 4 năm 1967, Lễ Kỷ niệm Đức Ngôi Hai Giáo Chủ, Cao Đài Hội Thánh, Dương Đông Phú Quốc.)

 

“Ta cho biết kim ngôn khoán chữ

Những thiên thơ đề cử tài cao

Nhân kỳ chuyến chót trần lao

CHIÊU DƯƠNG HOÀNG ĐẾ ngôi cao xuống trần

Nguồn ân điển kim thân xẻ ý

THƯỢNG ĐẾ HOÀNG chiếu lại Kỳ Hoa

CHA xuống thế cội điển xưa

Bát kỳ màn đạo HUYỀN xưa bức màng

Chỉ giáo lịnh sang Xuân khép luật

Sắp cuộc bài chiến thuật vô công

Bức màng Thiên cõi cộng đồng

Sứ mang thiên lịnh gánh tuồng kim giai

Thời xoay ngược nay mai không lộ (Không Lộ?)

Đáo Kỳ Hương NGỌC lộ Nam Thiên

[đáo Kỳ Hương = đáo qua Bửu Sơn Kỳ Hương. Ngọc lộ Nam Thiên = Ngọc Đế xuất lộ ở trời Nam]
Định cơ chuyển sứ trung hiền

HOÀNG NHỊ THIÊN ánh QUỐC Kiền trào tam

[Kiền = Càn = Thiên. Quốc Kiền = Quốc Thiên]

Tây mối đạo truy tầm ban ấn

Lời minh châu khai ẩn an tam

Tiếng thơ minh ngọc giác phàm

Thiên Khai HOÀNG NHỊ Cao tầm nguyên lai

[Hoàng Nhị = Hoàng Nhị Thiên. Cao tầm nguyên lai = Cao Đài hãy tầm nguyên lai]

Cơ Thánh Đức tới đây sẽ chuyển

Đại cuộc này xuất hiện cao nhân

Căn cơ đạo luận bôn trần

Thiên Môn Trời lập Phong Thần kỳ ba

Đời cuối hạ Vi Vô Tôn Thượng

Tiếp điển khai ĐẾ THƯỢNG chuyển xây

Bước vào Ngươn Hạ tan …

Định rồi trở lại bày khai giáo truyền

Kỳ khép luật không hiền phê chuẩn

Mỗi chiếu cơ ẩn phận kỳ ba

Giải mã mật nhiệm đạo CHA

Bạch thanh thanh bạch kỳ ba thi truyền
[bạch thanh không phải là trong sạch. Bạch là thưa trình. Thanh là âm thanh, là lời. Bạch thanh là lời thưa trình]
MINH THIÊN giáng trần tuyền trở lại
[Minh Thiên hay Huyền Minh là đạo hiệu của Huyền Thiên Thượng Đế trước đây lúc Ngài hạ phàm trên đất Trung Hoa.]
VÔ CỰC THIÊN chánh đại nơi nơi
Hội khai thay đổi lập đời

Lão tông truyền đạo thế thời hoằng khai.”

(Pháp Âm 2019_09, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền tiếp điển, Đàn Nam Thành, Giờ Mão, 21 tháng 12 năm Mậu Tuất)
   

“Chuyển bửu pháp hiện DI LẠC QUỐC

Nam miền châu thổ đến Cà Mau

Bửu Sơn Phật Tổ, Thầy xoay chuyển

Định pháp chuyển căn lập Cửu Trùng.

An Nam cư, QUỐC, Lạc kỳ nhân
[Lạc kỳ nhân = kỳ nhân của Hồng Lạc]

Đạo pháp Kỳ Sơn, Vua hiện trần
[Đạo pháp Kỳ Sơn = Đạo pháp Bửu Sơn Kỳ Hương]
THÁNH ĐẾ NGỌC HOÀNG chiếu điển MẪU

[Mẫu Linh (chữ linh của câu dưới) chiếu điển Thánh Đế Ngọc Hoàng (kim thân là Hoàng Nhị Thiên)]
Linh đơn hoàng thể trở về Nam
.”
 
[đơn = đơn độc; hoàng thể = kim thân; trở về Nam = trở về Nam VN]

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Công Trình, ngày 12 tháng 1 năm Đinh Dậu 2017,  Bửu Sơn Kỳ Hương)

 

NGỌC NGỌC trùng lộ Bạch Vân đang

HOÀNG ĐẾ hồi lai tá QUỐC Hoàng [Hoàng Nhị Thiên]

THƯỢNG THƯỢNG minh minh chi QUỐC

ĐẾ ĐẾ vận hành giải suy nan

TỐI THƯỢNG vô không bày sắc cuộc

CAO CAO âm diệu chiếu công năng

THƯỢNG THIÊN Hoàng Ngọc trùng lai phước

CÕI CÕI hư vô dựng bức màng
[Khoán 1: Ngọc Hoàng Thượng Đế Tối Cao Thượng Cõi.
Khoán 2: Ngọc Đế Thượng Đế Tối Cao Thiên Cõi]

Ấn HOÀNG THIÊN lịnh xoay thời ngược

Chỉ Giáo Tòa Đường hà ý khang

HUYỀN THIÊN khép luật mùa xuân trước

[Huyền Thiên Thượng Đế = Huyền Khung Thượng Đế]
Hành đúng lịnh kỳ giữ giang san
...

Thượng vô cao cả HÀ HƯNG bước

Thiên lịnh Đông THIÊN sứ mang

Lưu danh không lộ dù xuôi ngược

Hạ đáo tầm phương gánh tuồng màn

Lộ ngọc kim giai hà uy rượt

Kỳ phát đăng quang QUỐC HÀ sang

...

Đại Thiên Tam Giáo đang thao lược

Hội Long kỳ luân chuyển xứ an bang.

(Pháp Âm 119. Đàn giờ Mão ngày 19 tháng 12AL Đinh Dậu 2017. Đạo tràng Nam Thành. Tinh Hoa Hiệp Thiên Ngọc Lành)
   

“Phần thứ mười Đò Chiều chuyển bến

Ai có tên về trển gặp Thầy

Đạo KHÙNG, Đạo QUỐC, Đạo THẦY
Không xây được nước thì đây thế tàn

Kỳ Tư Đạo QUỐC khai trương
(Phật Sử Tiên Rồng, dòng 377-383, điển thi của Đức Vô Danh Thị, ngày 4 tháng 4 năm Nhâm Ngọ 2002, trong cuốn Đường Về Phật Quốc ấn tống năm 2012)

 
“Sao lại nói tu thêm QUỐC Đạo

QUỐC Lão là Đức Phật-Trời

[hai chữ Quốc Lão giúp xác quyết Quốc Đạo là "đạo của ông Quốc" theo kiểu nói của dân Lục Tỉnh]
Sau này Phật QUỐC lập đời

Ai mà hiểu được tức thời Thánh Tiên

Đây là lúc Thánh Hiền thị hiện

Cho đồng bào biết Vạn Thánh Tiên
Chờ khi Phật hiện Nam Thiên
Là ngày nhứt định cơ thiên xoay vần
Long Vân Hội đã cân số phận
Ai là vị Tâm Phật Đức Siêu
Vô vi tọa đỉnh tịch liêu
["đỉnh tịch liêu" cũng đồng nghĩa với "tịnh đầu sơn" trong thiên thơ của Mẹ Diêu Trì ở trên. Phối kiểm lại sự việc này ứng với chuyện Hoàng Nhị Thiên đăng sơn tu tập trên Thổ Đầu Sơn ở Tây Nguyên.]
Linh tâm đại định phép nhiều như mưa
[Linh tâm đại định = Phật Đà.  Phép nhiều như mưa = Đa Bảo.  Tòan câu = Đa Bảo Phật Đà  = Bảo Đà.  Phối kiểm lại câu này ứng với  tên Tháp Bảo Đà của Hoàng Nhị Thiên trên Thổ Đầu Sơn.]

(Long Hoa Đạo Từ, thứ sáu, số 5564, 2 tháng 3 năm 2001, trang C13, Báo Người Việt)

“Trùng trùng dậy cuộc bể dâu

Mười phần thất bảy, hai sầu, một tu

Đạo tràng vạn kiếp thầm tu

Hùm thiêng HƯNG QUỐC Đạo tu an nhàn

Sắp ngày lập lại vạn an

Việt Nam QUỐC Đạo, Trời ban Phật về

Cùng nhau tôn giáo lời thề

Tu cho đắc đạo về quê Nước Trời
[Nước Trời = Thiên Quốc]

(Tiên Rồng Long Hoa , Việt Nam Dân Tộc Đạo, ngày 14 tháng 4 Năm 2001, Nguyệt San Khỏe Đẹp số 726, tr.24)

  
“Có ai hiểu biết Hư Không

Tìm nhau để chứng "Đạo Không" đắc thành
[Đạo Không = Đạo Vô Vi]

Thích Như Lai chấp kinh Đạo QUỐC 

[chấp kinh cho ông Đạo Quốc, nói theo kiểu miền Tây.]
(Đường Về Phật Quốc: Cơ Thiên Đầu Thế Kỷ,
dòng 135-137, điển thi 2001-2008, ấn tống 2014)

 
“Pháp tâm Đạo QUỐC thiện từ

Toàn dân truyền lệnh Chơn Sư ra đời” 

[hai chữ "chơn sư" giúp xác quyết Đạo Quốc là "ông đạo tên Quốc" theo kiểu nói của dân Lục Tỉnh]
(Dòng 77-78. Ơn Trên Nhắn Nhủ. Điển thi Rằm tháng 8 năm 2003. Thiên Ánh Đạo Vàng)
 

“Mở mang Đạo QUỐC từ bi

Tứ Ân Hiếu Nghĩa thiên y Phật dành

Long Hoa Vân Hội Liên Thanh

Từ tâm vô lượng Ngọc Thanh, Phật Thầy
[Ngọc Thanh = Ngọc Thanh Tiên Trưởng = dưới thế là ông Cử Đa. Phật Thầy = Phật Thầy Tây An]

Nay pháp kệ truyền chung bốn bể

Tu! Tu! Tu! qui Đạo QUỐC về

Người xưa Tiên Thánh ước thề

Thiên lệnh THƯỢNG ĐẾ hướng về Liên Hoa

Rồng mây Long Hội hương hoa

Khắp trời thơm ngát pháp tòa khắp nơi”

(Dòng ?. Đường Về Phật Quốc: Cơ Thiên Đầu Thế Kỷ, điển thi 2001-2008, ấn tống 2014, Thiên Ánh Đạo Vàng)

Đạt lai căn bổn tánh tâm lai
[đạt = thành tựu; lai = trở lại. Hai chữ "đạt lai" này không phải là Đạt Lai Lạt Ma. Câu này ý nói đã thành tựu trong việc hườn lại căn nguyên bổn tánh Như Lai tâm]
Tuyên định nguyên căn đã ấn bài
[vị này là một "nguyên căn" đã được chọn lựa, đã thành tựu hườn nguyên như đã nói ở câu trên]
Thanh điển về trào tam, lục ngoại
[hai câu trên + "thanh điển về trào tam" trong câu này là để chỉ "Ngôi Hai trào tam",  lúc "đạt lai căn bổn tánh tâm lai" thì Ngài đã ngoài 60 tuổi (lục ngoại = ngoại lục tuần)]
Kiêu hùng đoàn mới duyệt trùng lai.

[Duyệt = hòa duyệt. Ngôi Hai trào tam cùng phái đoàn vô vi (vô hình) trở lại]
NHƯ LAI kiến thiết chuyện Đông Lai
Hà bạc đấp xây được đến Ngài
Hồ báo sắp bày thời mạc vận
[báo = thông báo. Hồ = Hồ Thơm = Vua Quang Trung, là một vị Thiên Vương có mặt trong phái đoàn vô vi]

Tranh hùng thúc dục kiến thiên thai.
Đã đến lúc hồi trào ngoại quốc
Dựng cờ Thiên theo đạo Huỳnh Sơn
Bửu Ngọc chân truyền kỳ ĐẠI ĐẠO
Thiên thơ chuyển đến QUỐC Tiên Thiên
[ông Thiên tên Quốc]
(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Đại Chủng Tánh, ngày 8 tháng 1AL Đinh Dậu 2017,  Bửu Sơn Kỳ Hương)

Khắp thế giới chung nhà Phật QUỐC

ĐỨC THIÊN CUNG ban thuốc Tiên Thần

Mươi vạn một thuở chuyển luân

Truyền nghe lắng điển thơ tuân thuận cùng.”

(Đường Về Phật Quốc: Hòa Đồng Đạo Linh, tr. 45, ấn tống 2012, Thiên Ánh Đạo Vàng)

Thiên khai Mã á hồi quy

[Mã á = Ngọ = ngựa. Ngọ chiết tự là chữ nhân  trên thập  dưới.  "Mã á hồi qui" = nhân thập quay về tập hội. Chính xác với câu sấm "có Thầy nhân thập đi về, tả hữu phù trì cây cỏ thành binh" của Trạng Trình 500 năm trước. "Thầy" đây là Ngôi Hai, cách xưng hô đặc trưng Cao Đài]
Đồ thư đã có tâm thư sẵn dành
Một năm xong chín con rồng

[báo trước 9 vị Thiên Long sẽ xuất hiện và kết nối cơ đại đạo trong vòng một năm]
Thuyền từ Tây tạng khởi dòng Nam Bang

[Tạng = tàng, theo nghĩa hành tàng, nơi chốn tạm trú.  "Tây tạng" là từ nơi tạm trú ở phương Tây, không có ý nói đến xứ Tây Tạng. Nghĩa của câu này là: con thuyền đạo xuất phát từ nơi tạm trú ở phương Tây (Hoa Kỳ) trở về lại VN (ngược dòng Nam Bang)]

Quang, Sang, Hải, Trọng Hồng Bàng
[đúng vào thời điểm VN có 4 nhân vật tên Quang, Sang, Hải, Trọng]

Ra khơi xây đấp một đàng tinh khôi
[tinh = tinh quái; khôi = khôi hài]

Lưu ly ngọc Bích đến nơi

[Lưu Bích = dòng xanh = sông = hà bộ thủy = đồng âm họ Hà bộ nhân. Lưu Bích = Hà.  Nghĩa câu này là: ông họ Hà (Hoàng Nhị Thiên) đến nơi]
Cơ thiên huyền bí giống nòi Việt Nam.

Phàm làm Thánh Đức trào tam
[Hoàng Nhị Thiên, Ngôi Hai trào tam, làm cơ Thánh Đức]
Điển thanh mời gọi, đậu hàm học cao

Lão Sư ngự ở ngôi cao

Vâng trào lĩnh chỉ Hội Trào Giống Tiên.

[đúng với huyền khải trong Ngọc Kinh III của Thiên Khai Huỳnh Đạo năm 1967 "Đạo đổi lối thì đời thay cuộc. Cậy tay phàm cầm đuốc sáng soi."  Người "phàm làm Thánh Đức trào tam" này là Ngôi Hai kỳ ba, Ngài có học hàm cao, là vị Lão Sư lĩnh chỉ của Huyền Không Hội Trào Giống Tiên.]
Thuyền liên hộ giá tôn nghiêm
[thuyền liên = liên thuyền = liên giáo]

Vua Nghiêu vua Thuấn đại dìu Càn Khôn.

Chúng đại đệ tử tiền đồn

Vào qua sông Mã quy hồi về đây.

[sông = hà bộ thủy= đồng âm với hà bộ nhơn = Hà họ.  Mã = ngựa = Ngọ chiết tự nhân trên thập dưới. "Sông Mã" = Hà Nhân Thập. “sông Mã qui hồi về đây” = "Nhân Thập họ Hà" qui hồi về Nam Bang. Ứng với câu Sấm Trạng "có Thầy nhân thập đi về, tả hữu phù trì cây cỏ thành binh.]

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Gởi Đạo Đồng Ngoại Quốc, ngày 10 tháng 1AL Đinh Dậu 2017,  Bửu Sơn Kỳ Hương)

“Cửu Trùng chuyển vận tầng không

Mây hồng tám đóa Mộc kỳ một châu.                   
Long Hoa Hội đời bách vân

Thiên Huỳnh HÀ đẳng đứng đầu QUỐC gia

[Thiên = Trời; Huỳnh = Huỳnh Long, Huỳnh Đế; Hà = họ Hà; Quốc = tên Quốc; gia = người]
Lời vàng Thánh Đế triều ca

Quy hồi TAM GIÁO gọi là THIÊN SƠN.

Đây môn hạ đồ thơ dịch

Viết rõ ràng theo đất Thiên Khai

Lập nên Sơn Đạo Huỳnh Kỳ

HÀ HƯNG QUỐC Chấn đại đầu Hà Tiên.

[cái gì tới chỗ cùng cực gọi là đại. Đầu = đầu trên hoặc đầu dưới. Hà Tiên là chỗ dưới cùng của Việt Nam nên gọi là "đại đầu Hà Tiên". Câu này cũng giống với câu "địa cực Sơn Thiên định" trong bài thơ của Mẫu Diêu Trì báo trước trong đàn cơ 1967 của TKHĐ.  Tất cả đề ứng nghiệm đúng vào nơi sinh Hà Tiên của trào tam Hoàng Nhị Thiên Hà Hưng Quốc.]
(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Thiên Địa Hợp Thành, ngày 13 tháng 1AL Đinh Dậu 2017,  Bửu Sơn Kỳ Hương) 

  

THIÊN Đế vừa ban ấn chỉ bài

LONG tuyền mạch đất vận thời lai

GIANG Đầu thiên đảnh thời Chiêu Lạc
ĐIỂM đặt Long Châu ứng chủ khai.
[Thiên Đế = Thiên Hoàng Thượng Đế]. Giang = sông = hà bộ thủy đồng âm với Hà họ.  Đầu = thủ lĩnh = Hùng. 
Thông Điển năm 801 ghi: 以富為雄 – Dĩ phú vi hùng. Có thể dịch thành “giàu có thì làm thủ lĩnh” (trích dẫn Trương Thái Du). Chữ Hùng 雄 này chính là Hùng trong danh xưng Vua Hùng.  Chiêu = Chiêu Vương Minh Tông Thần Công Hoàng Đế, vua Hùng chi thứ 7, Hoàng tử Liêu Lang.  Lạc = Lạc Long hoặc là Lạc Hồng. Thiên thơ tiết lộ Chiêu Hùng là một hóa thân dưới thế trước đây của Ngôi Hai trào tam Hà Hưng Quốc]

Xuống khúc Long Châu thời minh nguyệt 

Hạ phàm giang lật ngược song
[Xuống khúc = xuống trần chỗ = hạ sinh chỗ. Long Châu = tỉnh Long Châu Hà xưa kia. Thời minh nguyệt = vào thời gian trăng sáng.  Hạ phàm giang = sinh ra bên  cạnh con sông.  Lật ngược Hà song = song Hà = hai Hà = sông Hà Tiên chạy ngang qua chợ Hà Tiên.  Hai câu này ứng chính xác vào nơi chốn và thời gian hạ sinh của Ngôi Hai trào tam Hà Hưng Quốc, giáng sinh đêm 14AL tại Hà Tiên ngay cạnh sông Hà Tiên.  Đồng thời "song Hà" còn có ý nói "ông Hà Tiên" (ông tiên họ Hà) và "địa danh Hà Tiên".]

Thiên Môn chiếu lịnh Thiên Tùng khải

Đặt định THIÊN HOÀNG đặt định khai.

Mười hai cửa đạo dựng Tam Ngôi
[Thiên Tùng là pháp hiệu của Phật Thầy. Khải = nói cho biết. Phật Thầy nói cho biết đây là chuyện Thiên Hoàng đã đặt định, nay là lúc hoằng khai
12 cửa đạo (12 chi đạo). Tam ngôi = ngôi Phật, Pháp, Tăng = ngôi Cha, Con, Thánh Thần = ngôi Cha, Mẹ, Tam Giáo Tòa = ngôi Tinh, Khí, Thần = ngôi Nhựt, Nguyệt, Đẩu]

Thế giới đồng liêu thượng giới ngồi

Nhất Cửu đồng Huỳnh-Kim khế hội

Lời truyền Thánh Đức vạn thời Tôi.

Khai kim khế hợp thời cơ khai

Đặt định Thế Tôn hiệu triệu Ngài
Liên đỉnh Hồng-Huỳnh khai khế hội

Lịnh trình chiếu định ấn Như Lai.  
[Ngài = Ngôi Hai trào tam Hà Hưng Quốc.
Hồng = Hồng Hoa; Huỳnh = Huỳnh Long. Liên đỉnh Hồng-Huỳnh = Long +  Hoa = Long Hoa.  Khai khế hội = khai Long Hoa Hội. Định = không thay đổi. Ấn = sắc ấn.  Chiếu = chiếu chỉ]

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Thiên Long Giang Điểm, ngày 29 tháng 4AL Đinh Dậu 2017,  Bửu Sơn Kỳ Hương

“Vô vi trực chỉ một lời tối cao

Lời thượng đẳng Huỳnh Quang Thượng Tổ

Gởi thăm HÀ HƯNG QUỐC lương sơn

Cảnh đời chuyển thể tỏ tường

Lời đắc pháp Tòa Đình hiện đến

Chuyển càn khôn mười tám nước về

Vòng tròn châu lục hội tề

Quần sinh đỉnh Mộc ước thề Thiên Can.

Tròn sứ mạng đình nang Chấn QUỐC
[Chấn = Mộc = Lôi Thiên = Đông Mộc Công = Ông Trời chưởng quản khí dương = Ngọc Đế Đại Hoa = Huyền Thiên Thượng Đế... nhiều tôn danh khác nhau do phàm trần tôn xưng nhưng tất cả đều chỉ vào một.]
Chiếu đồ thơ đúng lúc đúng năm

Trăng rằm trăng sắc nhật thiên

Đồ hình chuyển biến vạn niên thiên đài.

Đại Từ Ông chuyển kiếp hóa sinh

Thành tâm chuyển biến cung đình 

Hoàng thành mạng sứ vô hình chuyển giao."
[Hoàng = Hoàng Nhị Thiên; thành = thành tựu. Hoàng Nhị Thiên thành tựu sứ mạng vô hình chuyển giao]

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Ngộ Trí Lực, ngày 13 tháng 1AL Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương)

 

Rồi một thể Chấn HÀ HƯNG QUỐC

Rõ đường đi gặp mặt nhị hiền

Nói rằng đã rõ đường đi

Thiên thư trực chiếu tâm thì khởi ra.

Lời Ngọc Bạch Toà Chương hiện hữu

Chuyển thể hình đặng việc gần xa

Lập nên cơ pháp đạo nhà

Truyền trao tâm ấn Phật Đà vô vi.

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Hành Trình Xuyên Càn Khôn, ngày 17 tháng 1AL Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương.)

 

“Lời cơ đạo THIÊN HÀ hiệu lực

Ấn chứng Thiên truyền pháp Thiên Sơn

[Thiên Sơn là biểu tượng của Tam Giáo Tòa]
...

Đạo mới Huỳnh Khai, Thiên Bửu Tòa

[Huỳnh Khai = Thiên Khai Huỳnh Đạo, nhưng không phải Thiên Khai Huỳnh Đạo khai lập đầu thập niên 1960 mà là Thiên Khai Huỳnh Đạo Kỳ Ba Vô Vi  khai lập vào thời điểm này.]
HUYỀN KHÔNG ấn định chiếu HƯNG HÀ

QUỐC khai Thiên Ấn ngôi HUỲNH ĐẾ

Giúp mở tâm lành giúp quốc gia."

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Vận Chuyển Huyền Cơ, ngày 17 tháng 1AL Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương.)

"Khai Đạo HOÀNG THIÊN hiện đại đàn   

Pháp thiên Vô Cực hiệp Tây An

Đàn long áng định niên Thiên Đạo

Cơ pháp Phật-Thiên đạo pháp ban.

[Khoán: Khai đạo Hoàng Thiên hiện đại đàn, pháp đàn cơ pháp, Phật-Thiên đạo pháp ban.]

 

Hữu đức tầm tri lí diệu huyền

mầu xuất Đế Đạo Huyền Thiên

Pháp tâm thiên Đại Thừa Chơn Giáo

Thiên xuất luật, thơ, bửu pháp truyền.

[Khoán: Hữu đức tầm tri lý diệu huyền, cơ pháp Thiên xuất luật, thơ, bửu pháp truyền.]

 

Trần miền Nam Việt hiện Tòa Liên

Văn võ thiên căn đạo pháp truyền

Tân luật Nam Thiên Đại Quốc Đạo

Khai đàn THIÊN ĐẠO hiệu HUYỀN THIÊN.

[Khoán: Trần Văn Tân khai đàn Thiên Đạo hiệu Huyền Thiên.]

 

HUYỀN THIÊN VÔ CỰC ĐẠI TỪ TÔN

HƯNG đạo An Nam thuyết giáo ngôn­ ­­

QUỐC đức trường thiên mầu võ trụ

vân phong hội hiệp Thiên Môn.

[Khoán: Hà Quốc Hưng Huyền Thiên Vô Cực Đại Từ Tôn]

 

Thiên môn Huỳnh Đế xuất An Nam

Ngự bút võ văn Tòa Giáo Tam

Khai án đàn cơ niêm luật đạo

Diêu Trì Kim Mẫu ấn Thiên Nam.

[Khoán: Thiên Môn Huỳnh Đế xuất An Nam, ngự bút võ văn, khai án đàn cơ, Diêu Trì Kim Mẫu ấn Thiên Nam.]

 

Thiên Nam cửu ấn Bạch Vân âm

Chủ bút tùy căn cơ pháp tâm

Chánh kiến đại kỳ liên chánh đạo

Điển THẦY, điển MẪU, điển Quan Âm.

[Khoán: Thiên Nam cửu ấn Bạch Vân Am (Trạng Trình), chủ bút tùy căn, chánh kiến đại kỳ. Điển Thầy, điển Mẫu, điển Quan Âm.]

(Đàn St.Louis, thiên thơ Khai Pháp Đàn Cơ, ngày 16 tháng 6AL Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Huỳnh Đạo)

 

BỬU sông thanh tịnh kiến Tiên bang
[Bửu sông = bửu Hà = bảo giang.  Sấm Trạng: bảo giang Thiên Tử xuất. Nguyên văn viết chữ "song" là do bị lỗi.  "Thiên Tử" ở đây là "Ngôi Hai con Trời" chứ không phải vua.]

SƠN xuất Huỳnh danh hiển lộ phang

[Sơn xuất Huỳnh danh = Huỳnh Đế xuất sơn. Hiệp hai câu trên dưới thành ý nghĩa "bửu sơn thiên tử xuất" trong Sấm Trạng]
KỲ thuyết qui ngươn cùng hiệp nhứt
[kỳ thuyết qui ngươn = giáo thuyết qui ngươn]

HƯƠNG trung QUỐC thể dựng trường an.
[thể = thân xác phàm, kim thân. Dựng = thiết lập.  Trường an = an lạc lâu dài]

BẠCH NGỌC qui khối hiệp một bầu

[Bạch Ngọc = Bạch Ngọc Kinh = nơi Ngọc Hoàng Thượng Đế cư]
minh giáo chúng nhữ Nam lầu
[Sĩ minh giáo chúng = Môn sinh của Thiên Đạo Huyền Khung]

TIÊN khai Đạo cả vầy Long Hội
[Tiên Ông khai đạo cả = Tiên Ông khai đạo lớn, đại đạo]

SANH thế phương Nam đắc lộ cầu.
[sanh thế phương Nam = hạ phàm ở Nam Việt]

NAM Bang nhất sĩ hiệp anh hùng
[Nam Bang = Việt Nam. Hiệp anh hùng = hiệp chư nhu của Đạo]

QUỐC độ huỳnh tông đắc Cửu Trùng
[Quốc dẫn tông phái áo vàng (huỳnh tông) về với Thượng Đế (bạch tông)]

CÔNG lý tiêu, qui nhất thống
[nguyên văn là "công lý Tiêu Hà".  Công lý của Thừa Tướng Tiêu Hà thời Lưu Bang không liên can gì tới Cơ Thiên Nam Việt.  Thiên thơ phải giảng giải theo cơ thiên.]

KHANH thông đạo cả, hợp trùng HƯNG.” 
[Khoán thủ: Bửu Sơn Kỳ Hương, Bạch Sĩ Tiên Sanh, Nam Quốc Công Khanh.  Ba chữ gạch dưới Quốc, Hà, Hưng là tên họ chữ lót của Đức Hoàng Nhị Thiên trào tam. Bửu sông và Quốc Thể cũng là tên họ  Hà Quốc của Đức Hoàng Nhị Thiên.]

(Lịch Sử Long Hoa Đại Đạo. Điển sấm ký của Phật Thầy Tây An, ngày 15 tháng 7 năm Bính Thìn 1976, bản chính của TS Lê Trung Trực, bản sao của Viễn Lưu.)
 

Tổ Phụ hiền nhân đã bao đời
QUÔC gia gầy dựng sáng rạng ngời

Việt hiệu lưu truyền giống Hồng Lạc

Nam Thành bờ cõi một góc trời.
[hai chữ Tổ Phụ là để chỉ người khai sinh một đất nước. "Hiền nhân đã bao đời" ám chỉ từng nhiều lần giáng sinh làm tiên hiền của đất Việt.
Gia phải hiểu theo nghĩa như gia gia, hay lão gia. "Quốc gia" là "lão gia tên Quốc".  T
hông thường Nam Thành là Sài Gòn nhưng đây "Nam Thành bờ cõi" là một đất nước]

Lưu lại nhân gian hậu thế, thời

Truyền kỳ dũng cảm anh hùng khởi

Hậu vận giang san Nam Đế QUỐC

Thế lai vĩnh cửu lắm tuyệt vời.”
["Nam Đế Quốc" không thể là "Đế Quốc phương Nam" được. Nam bang Phật Quốc lại càng không thể là một đế quốc. Hơn nữa hai chữ "một góc trời" cũng không phải là "trùm trời" để chỉ một đế quốc. Do đó, "Nam Đế Quốc" là "Nam Đế tên Quốc" thì hợp lý hơn. Đế ở đây cũng không phải là Vua mà là Đế Chúa = Ngọc Đế.]

(Tiên tri năm 1999, điển Phật Thầy, treo trên tường trong phòng khách nhà anh chị Thiên Bửu - Thiên Chơn, California)
  

Đại chúng chư thần chầu Ngọc Quế

Tuế minh vạn cửu đáo trùng lai

Hoa Thiên can Chấn Càn cung Khảm

Ngũ Đại Lôi phát tướng, địa bình.

Phù định chiếu thư MINH CHÚA viết

Trào đình xuất hiện ĐẤNG TOÀN NĂNG

Cho thấy biết quân cơ định thần

Trong lòng có được đạo Thiên Ân

Di Tôn Đại Việt HOÀNG NHỊ THÁNH
[Hoàng Nhị Thánh = Hoàng Nhị Thiên]

Tam Thánh Vô Vi  Phật Lão Tôn.

QUÂN chi bảo định MINH chi đại

Hiệp Cửu Trùng sắc tướng tịnh không

Nguyệt cung đại hiệp tam quan

Tầng không vũ trụ cung Càn chiếu ra

Sáng trong bạch thủy ta bà

THÔNG THIÊN GIÁO CHỦ Sơn Hà nước Nam.
...

Tây Nguyên rộng lớn trào tam

Niết bàn ba cõi chuẩn làm theo cơ     

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Huyền Cơ Diệu Pháp, ngày 6 tháng 12AL năm Bình Thân 2016, Bửu Sơn Kỳ Hương)
 

Cửu Trùng Thiên bủa quân ân chuyển

THẬP TỰ CÔNG di chí đạo khai

Ra đời pháp tầng âm khai bổ 

Lộ bóng HUYỀN căn lập QUỐC kỳ
[Thập Tự Công = Ông Thập Tự = Thầy Nhân Thập. Huyền = Huyền Thiên. Quốc = Hà Hưng Quốc, Ngôi Hai trào tam.  Kỳ = kỳ thuyết]

Pháp vô điển vô vi vô pháp

Ngũ Hoa Liên kho ngọc vận thi kỳ

Châu viên tích trữ cơ thấu lục

Cõi giống Lạc Long cửa Lạc Hồng

Mang trí tuệ căn kiếp Tiên lần trùng khí giả

Đỉnh đạo đời định vị bởi kỳ tam

Thiên thiên QUỐC Đạo soi đường hướng

Chí cả nay mai tỏ Bóng Tùng

Tích thiện tích lai thới qui đề giả

Lịnh Nương sắp cuộc bày QUỐC Đạo nền khai

Cuộc đạo chu kỳ chánh pháp nguồn

Thiên Thiên QUỐC đề môn khai thiện chí

Lực hùng thiên sáng tuệ căn soi

Lòng từ tái độ thiện duyên kỳ

Tạo cơ địa núi sông sông núi

Giác hạc Tây đôi nét công đồng

Đạo đạo tuồng tướng toại di Đông

Thần thức chiếu Tây xuống trần hồng

Lập trọn Đạo tạo vô hình cơ bổn

Đạo Thiên THIÊN ĐẠO đồ tái độ hiện

Giả cảnh không không cảnh tâm bia

Chốn kỳ ba cương kỷ lập quyền

Đời bủa pháp tích tu đời độ.

(Pháp Âm # 160, ngày 3 tháng 5 Mậu Tuất, đàn tràng Nam Thành, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền )

 

"Khai cơ mầu ngược nước ra khơi

Yên thiện chấp cung thủ đàn khai lộ

Bậc quang minh ánh sáng cao siêu

Nay bông trổ ráng kỳ bám chủ

Gọi QUỐC hồn phận lực kỳ tam

THIÊN tự MINH về chào càn khôn bể
[Minh Thiên = Thiên Minh = Huyền Thiên]

(Pháp Âm #161, ngày 3 tháng 5 Mậu Tuất, đàn tràng Nam Thành, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền)

 

“Đông du THIÊN HUYỀN QUỐC Nam Hàn

Ngẩm chuyện xưa buộc đoán cao ngôi

Kỳ Long mạng lập trường khúc vịnh

Bát Nam Thiên nghịch cảnh bầm cơ

Giải liên ngân quang ngự tam đồ

Xe pháo chốt tiên ban truyền ấn

Linh Hoa Yên long phù trổ thời

Lố dạng tâm đồ QUỐC điền viết tiên NGÔ
Xá xá anh kiệt lòng Phật Thánh

CHIÊU dậy công đồ chốn cao ngôi”
[Thiên Huyền = Huyền Thiên. Quốc = Hà Hưng Quốc, Ngôi Hai trào tam. Tiên Ngô = Ngô Chưởng Giáo = Ngô Đại Tiên = Ngôi Hai trào một Ngô Minh Chiêu]

(Pháp Âm #164, ngày 3 tháng 5 Mậu Tuất, đàn tràng Nam Thành, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền)

 

Phụng gáy tái bản HUYỀN THIÊN Thiên

Thăng trầm hành giả thả đất mầu

Thượng đỉnh lịnh HUYỀN chờ lai chung độ

Ngọc Bạch Quần Tiên chuyển giới công”
[tái bản Huyền Thiên thiên = Ông Trời Huyền Thiên một lần nữa trở lại thế phàm. Phụng gáy = năm Đinh Dậu.  Ngọc Bạch Quần Tiên = Quần Tiên của Bạch Ngọc Cung]

(Pháp Âm 165, ngày 3 tháng 5 Mậu Tuất, đàn tràng Nam Thành, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền)

 

Năm con Gà PHẬT HOÀNG luân chuyển
[Năm con gà = Đinh Dậu 2017. Phật Hoàng = Phật Vương = Di Lạc Phật Vương]

Đất Láng Linh cổ điển Ông Hai

Chiều nay định số an bày

Cho ai biết được PHẬT NGÀI giáng lâm

Thân phàm XUẤT THẾ ĐẦU NĂM

[thân phàm = kim thân của Phật Vương Di Lạc.  Ông Hai Láng Linh = một trong 12 vị đạo sư đệ tử của Phật Thầy]
(Pháp Âm 107, 23 tháng 10 Đinh Dậu, đàn tràng Nam Thành, Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền)
 

THIÊN ĐẠO THÁNH NGỌC HOÀNG đại lực

CHÚA MINH TÔN HUYỀN lệnh THIÊN Đài

Đài đền Tam Thánh ngôi cao

Vân long tám điểm hồng châu đỉnh đầu.

Hiệp Tứ Tượng thượng nguyên bình đáy

Hiệp Long Châu Giang điểm Đài Thiên

Bàn tròn vận chuyển khai nguyên

Long Châu Giang điểm HUYỀN THIÊN Ngọc Tòa.

Thầy Sơn Bửu ngọc ngôn phân tánh

Định thứ phân theo tám long châu

Cấp cho Tứ Trụ Đồ Thiên

Long châu long trượng ĐẠO THIÊN hiện hình.”
[Minh Tôn Huyền Thiên = Huyền Thiên Thượng Đế]

(Hiệp Trần Tam Thiên, ngày 15 tháng 5 Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Huỳnh Đạo, Tinh Hoa Hiệp Thiên Phương Vũ)

 
          Ngay cả những người đấu tranh vì đất nước cũng được Huyền Không mặc khải. Sự mặc khải lặng lẽ mà ngay cả người nhận thông điệp có thể cũng không biết mình được mặc khải mà nghĩ rằng thơ văn sáng tác đến từ cảm hứng của chính mình.  Thí dụ như bài Chấn Lạc Hồng của Trần Đông Chấn:

 
“Nam QUỐC Mộc tinh Chấn Lạc Hồng
[Tinh diệu chỉ thiên can. Mộc tinh = thiên can Mộc là năm Giáp, Ất]
Vận thiên khí hội kiến hỏa nhân
[
Nguyên văn viết là "hòa nhân" (do tiếp điển không chính xác hoặc lỗi). Vận "thiên khí hội" thuộc địa chi.  Hỏa nhân = người có địa chi Hỏa, là người sinh năm Tỵ, Ngọ.  Kết hợp Thiên Can với Địa Chi thì có được tuổi Giáp Ngọ, không có Ất Ngọ cũng không có Giáp Tỵ trong 60 Hoa Giáp. Như vậy, hai câu trên nói: người nước Việt tuổi Giáp Ngọ.]
Chấn Đạo QUỐC HƯNG bình thiên hạ
[Mộc, Chấn đều chỉ cùng một người. Nói Mộc là nói theo thuật ngữ Ngũ Hành, là Đông Mộc. Nói Chấn là nói theo thuật ngữ Bát Quái, là Đông Chấn. Đông Mộc = Đông Chấn là để ám chỉ Ông Trời Đông Mộc Công chưởng quản ngôi Dương, chồng của Bà Trời Tây Kim Vương Mẫu chưởng quản ngôi Âm (theo tín ngưỡng nhân gian). Quốc Hưng là tên của người Việt tuổi Giáp Ngọ]
Ngoại quốc lân bang kính phục giao.”

(Chấn Lạc Hồng, Bính Tuất 2006, của Trần Huỳnh Duy Thức.)
     

Tổng hợp những thiên thơ, sấm giảng, tiên tri, thánh giáo mà Thiên Thượng đã tiết lộ rải rác đó đây trong gần 100 năm qua người đọc chắc chắn đã có được trong tay không ít thông tin về vị Sư Ông Cao Đại Hoàng Nhị Thiên.

 
 
Điểm 7.
Hai chữ "Cao Đài" hoặc bốn chữ "Cao Đài Đại Đạo" mà Thầy sử dụng trong một phạm trù rộng lớn hơn sẽ không cùng nghĩa với hai chữ Cao Đài hoặc với bốn chữ Cao Đài Đại Đạo là một tôn giáo khai lập từ năm Bính Dần 1926.  Tương tự, bốn chữ "Huỳnh Đạo Thiên Khai" mà Thầy nói tới ở đây không có ý nói tới tôn giáo Thiên Khai Huỳnh Đạo khai lập từ năm 1962.  Điều này đã được Thầy xác lập lại nhiều lần.
 
 
Điểm 8.

Chuyện "Thống nhất Triệt Giáo hoàn cầu" có lẽ không phải là nỗ lực hữu hình mà bất cứ một tôn giáo hiện hữu nào có thể làm được.  Trước tiên nó phải là nỗ lực của "toàn lực lượng vô vi" trong "tam thiên" theo lệnh của Bạch Ngọc Kinh, Lôi Âm Đại Na Di, Diêu Cung và Hội Đồng Tam Giáo Tòa trên cõi Huyền Không.  Rồi các Thiên Nhân trên khắp thế giới thực hiện phần hữu hình theo đà chuyển dịch tự nhiên của Thiên Đạo để hoàn tất phần còn lại của  CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC.  Lý do cho nỗ lực "thống nhứt Triệt giáo toàn cầu""đổi quả kiền khôn tái lập đời" được nói rõ:

  

"Loài người nay cũng đã đến hồi
Giác ngộ Tâm Kinh tiến hóa rồi
Bước lên một nấc thang cao trổi
Đổi quả kiền khôn tái lập đời."

(Đàn giờ Tý, ngày 17 tháng 6 năm Đinh Sửu 1997, đàn dạy đạo huynh Quyền Pháp)
  

          Các vị Thiên Nhân còn có một tên gọi khác, đó là Thiên Long và Liên Hoa.  Sự qui tập của họ vào một thời điểm đã được ấn định để cùng nhau thực hiện sứ mạng thiêng liêng đã được giao phó gọi là Long Hoa Hội.  Nói về Long Hoa Hội, trong đàn cơ ngày 15-17 tháng 10 năm Canh Tuất 1970, Đức Chưởng Giáo Ngô Văn Dư của Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo đã cho biết:

"Dầu biết cảnh trần hồng tạm gởi
Sứ mạng truyền mong đợi Long Hoa
Đường Tiên còn chẳng bao xa
...
Được THƯỢNG TỔ sắp bày bí pháp
Dìu nguyên căn qui nạp linh nhân
Long Hoa tuy đã hầu gần
Nhưng thương số kiếp, nợ nần oan khiên
...
VÔ CỰC mĩm cười: "Tâu đúng lẽ! 
Nhưng trường thi ai sẽ lo lường? 
Long Hoa Hội sắp khai trương
Hữu hình con giữ, ai thường vô vi?
...
Thỉnh NHƯ LAI kịp đáo hội bàn
Long Hoa sắp mở khoa tràng
Lành thay! chiếu sắc THƯỢNG HOÀNG gia phong!
...
Chờ đến buổi Long Hoa ứng thí
Cho Đạo Vàng vững chí ra công!
...
Trước đền, hiện chiếu TAM TÒA
Chấp phê nguyên tắc Long Hoa luận bàn.
"

(Thất Nhựt Du Tiên, Chưởng Giáo Ngô Văn Dư giáng đàn, đàn cơ ngày 15-17 tháng 10 Canh Tuất, Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo)

    
           Thời điểm 1970 thì Long Hoa Đại Hội chỉ là "mong đợi", "gần", "sắp", "chờ", "luận bàn nguyên tắc" nhưng vẫn chưa tới.  Và trong một đàn cơ năm 1997, Thầy lại cho biết:  

  

"Long Hoa Đại Hội sắp kề chân
Bớ chúng sanh mau tỉnh mộng trần
Nhanh chân tách bến qua bờ giác
Để kịp khoa tràng kẻo trễ chân.

Chân Truyền Đại Đạo kể từ đây
Phổ hóa năm châu cứu nạn này
Cơ cuộc diễn bày ra trước mắt
Không ai thoát khỏi trận cuồng xoay.

Xoay chuyển Càn Khôn tái lập đời
Quyền Pháp Kỳ Ba tỏa nơi nơi
Cao Đài danh hiệu vang ba cõi
Thiết lập đời tân gốc ĐẠO TRỜI.

(Đàn cơ ngày 15 tháng 5 năm Đinh Sửu 1997, đàn dạy đạo huynh Quyền Pháp)
   

          Cụm chữ "kể từ đây" có nghĩa là kể từ Long Hoa Hội khai màn, không phải từ năm 1997.  Theo tinh thần của đoạn thiên thơ trên thì ở vào thời điểm 1997 Long Hoa Hội cũng chỉ là "sắp kề chân" thôi chứ chưa diễn ra.  Và, một khi Long Hoa Hội khai diễn thì đó cũng là ngày chính thức "Chân Truyền Đại Đạo" và "Phổ Hóa Năm Châu".  Điều này cũng có nghĩa Long Hoa Hội không phải chỉ là để Phán Xét như nhiều người nghĩ lầm, mà là một nỗ lực Cứu Thế của Cha Trời trước và vào đúng lúc những thay đổi lớn lao diễn ra trên mặt địa cầu, những thay đổi có khả năng "tái lập đời".

 

          Vậy thì, chính xác là chừng nào các vị Thiên Long và Liên Hoa mới xuất hiện? Chừng nào các Sư Ông xuất hiện? Chừng nào vị Sư Ông Cao Đại Hoàng Nhị Thiên xuất hiện? Trong đàn cơ năm 1960 nói về Chương Trình Long Hoa Đại Hội (văn bản thuộc loại "mật") của Thiên Khai Huỳnh Đạo, Đức Di Lạc Phật Vương cho biết:
    

"Chừng khi gặp đư­ợc gà sắc đỏ
[Gà sắc đỏ = Đinh Dậu 2017]

Ắt rạng điềm tỏ rõ Ngũ Châu

Nhà Nam bá chủ gồm thâu

Minh Hoàng xuất hiện đâu đâu phục tùng"

(Ngũ Phụng Kỳ Sơn, trang 38, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1960)

      

         Mẹ Diêu Trì cũng cho biết:

"Một nam tử giữ gìn vẫn chánh

Một quần thoa bảo lãnh toàn chơn

Một tay dập tắt căm hờn

Một giây, một phiếm, một đờn Bá Nha...

Một con Lạc dầy công tu luyện

Một cháu Hồng nhận điển Huyền Thiên

Một lời Mẹ đoán tam niên

Mùi Thân Dậu: Có, con hiền chờ xem"

(Ngọc Kinh 3, trang 48-49, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)    
  
       Và Văn Xương Đế Quân cũng cho biết:

"Chỉ còn có hai năm Thân Dậu

Xiết là bao nung nấu lòng người

Não nề đường lối như như

Không không là những tiếng cười thâm uyên.

Ai nhận được ba Tiên một Phật

Là tròn câu tiêm tất dặn dò

Khỉ rừng chót chét bo bo
[Bính Thân 2016 chỉ mới hé lộ chút chút]

Gà nhà tiếng gáy ó o vui mừng.
[Đinh Dậu 2017 mới chính thức xuất lộ]

...

Thấy đủ đầy sự thiệt vô cương

HUỲNH LONG trổ hiện phi thường

Phật ra mặt Phật, MINH VƯƠNG cứu đời.

Dập tắt hết muôn nơi nước lửa

Phá tan mầm kiến lủ đàn ong

Việt Nam đất nước thành công

Lạc Hồng nòi giống gương trông thế thời"

(Ngọc Kinh 3, trang 68-69, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)

      

"Nơi Hậu Giang Ngọc Đế định rồi

Long Môn sấm ký để lời

Chơn truyền Huỳnh Đạo nhất thời hoằng khai

Tiên tri trước hậu lai sẽ rõ...

Thân Dậu niên an bày thế cuộc

Hội Long Hoa ngọn đuốc Đạo Huỳnh
Tàn Đông xuất hiện Tổ Đình"
[nhất thời hoằng khai = tạm thời hoằng khai cho một giai đoạn ngắn.  Huỳnh Đạo mà tiền thân là Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo hoằng khai năm1962 chỉ là tạm, "nhất thời" trong một giai đoạn ngắn, chưa phải là Huỳnh Đạo Thiên Khai kỳ ba vô vi. Tiên tri trước để hậu lai rõ là tới năm Thân Dậu trong tương lai thì mới an bày thế cuộc của Đạo Huỳnh.  Đạo Huỳnh hoằng khai tại thời điểm Long Hoa Hội khai diễn là Huỳnh Đạo Thiên Khai Kỳ Ba Vô Vi (đã khai cơ vào năm Bính Thân hoằng khai ngày mồng 2 tháng 8 năm Đinh Dậu 2017 đúng với tiên tri) còn Thiên Khai Huỳnh Đạo mở năm 1962 chỉ tạm trong một giai đoạn.]

(Sấm Giảng Hậu Giang, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 25-6-1965)

   

"Gà bay xa lộ xuyên Đông,
Hà Giang Thánh xuất tấn phong tôi hiền
Mười tám nước minh liên định liệu

Phật Vương truyền sắc đổi Thượng Ngươn"
[Gà = năm Dậu. "bay xa lộ" = "bay đường xa". "xuyên Đông" = xuyên qua Biển Đông.  Câu này nói năm Dậu bay đường xa xuyên qua biển Đông. Hà Giang là tên gọi Hà Tiên xưa trong thiên thơ Cao Đài, xem Đại Đạo Luận Tr.41. Thánh xuất = Ngôi Hai trào tam "bay đường xa" ra ngoại quốc.  Tấn phong tôi hiền = khai đạo tại hải ngoại, sắc phong cho giáo đồ.  Thực tế, tất cả đã ứng nghiệm chính xác 100%]

(Sấm Giảng Tiền Giang, Thiên Khai Huỳnh Đạo, 1967)
 
 

Tân niên Dậu ký Phật đáo lai 
[tân niên Dậu = năm mới 2017 Đinh Dậu]

Long chuyển ngũ châu rạng Phật đài

Càn khôn hội hiệp quy tam cõi

Thánh Đức Tân Dân Cửu Trùng khai

(Bửu Linh Tự, thiên thơ Phật Đáo Lai, Mùng 1 Tết Đinh Dậu 2017)
  
 

"Cuộc vận chuyển nghìn năm có một

Thiên Nhân Địa cảnh hiệp về đây

Khởi đầu thi Hội Long Hoa

Chứng minh Đức Thánh kỳ ba khai trào.

Mỗi linh căn chứng phàm kim thể

Đúng pháp môn hiện hữu nơi đây

Hoa ấn chung hòa cùng Đại vị

Khải Ngài DI LẠC hiệp Càn Khôn.

(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Chứng Thánh Tam Ngươn, ngày 13 tháng 12 Bình Thân 2016, Bửu Sơn Kỳ Hương)

  

"THIÊN MINH nhất giáo hiệp triều đình
Chấn quẻ Đông bình hiện NHẤT MINH

Tôn Khảm hiện diện niên Dậu tuế
Hoàng cầu chuyển động hiệp quần sinh.
[Thiên Minh = Minh Thiên = Huyền Thiên Thượng Đế. Niên Dậu tuế = niên Dậu và tuế Dậu = tháng 8 AL năm Đinh Dậu 2017. Hoàng Nhị Thiên khai giáo đúng vào ngày mùng 2 tháng 8 Đinh Dậu ứng với câu "mùng 2 tháng 8 cơ trời".  Khảm = Bắc Khảm Thủy = Bắc Phương Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế.  Nhất Minh Tôn Khảm = Minh Tôn Huyền Thiên.  H
oàng cầu = trái cầu vàng. Hoàng cầu chuyển động = Huỳnh Long hành động]

Long thần thức tướng hiện Càn Khôn

Hoa điểm tương lai chuyển Giáo Tôn

Diễn cảnh tương lai thiên kỳ định

Trận vô vi trận pháp Thiên Tôn..."

[Khoán Thủ: Long Hoa Diễn Trận]
(Đàn Tắc Vân, thiên thơ Long Hoa Diễn Trận, ngày 30 tháng 2AL năm Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương)

  

"Thiên Ấn Càn Khảm luận việc làm

Trạng Trình kỉnh việc hội trào tam

Tam thiên thế giới lân hòa hiệp

Nhất đẳng Huỳnh quang nhất hội tam.
...

Ngài lộ cơ HUYỀN THIÊN Đại Cán
Nhất trào thiên nhất điển Hồng Lai
...

Nhất cửu đỉnh Hồng Quân Thượng Tổ

Nhất niên lai Đinh Dậu khai bài  [Đinh Dậu 2017]

Tứ thân hành ngũ đẳng truyền nhân

Thần Thánh Phật, Tòa Đình hiện thế.
...

Đúng Thượng Ngươn kỳ hẹn truyền trao

Lời tỏ tường theo lệnh Thiên Tôn

Luận cho rõ pháp tâm nguyên thể."

(Đàn California, thiên thơ Thanh Bạch Sắc Cơ, ngày 6 tháng 3AL năm Đinh Dậu 2017, Bửu Sơn Kỳ Hương)

  

Hiện thân DI LẶC Thiên Oai

Cứu nguy tận thế thoát tai nạn tàn...

Thế cho nên Phật truyền chuyển thế

Là chuyển tâm tu khắp hoàn cầu

Việt Nam là nước bắt đầu

HUYỀN khai mở nhiệm mầu tới đây

Hướng Tây Phương, Tây miền Nam hướng

Sẽ hiển linh duyên ngộ PHẬT VƯƠNG
[Thiên Oai = Thượng Đế.  Di Lạc Thiên Oai = Thượng Đế tá danh Di Lạc. "Cơ huyền" là cơ huyền diệu nhưng đồng thời "Cơ Huyền" còn có nghĩa là cơ của Huyền Thiên Thượng Đế. 
Phật Vương = Di Lạc]

(Dòng 532-546, Phật Sử Tiên Rồng, điển thi của Đức Vô Danh Thị,  ngày 4 tháng 4 năm Nhâm Ngọ 2002)

 

          Là năm Đinh Dậu, Gà sắc đỏ!  Không ai dám chắc có phải là Đinh Dậu 2017.  Nhưng căn cứ theo thiên thơ như đã trình bày thì người viết dám khẳng định là năm Đinh Dậu 2017 vì chỉ có thời điểm này thì mới có sự hội tụ đầy đủ các nhân vật lịch sử VN "Quang, Sang, Hải, Trọng"  [Trần Đại Quang, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải, Nguyễn Phú Trọng] và chỉ có "tứ trụ" này mới có khả năng "Ra khơi xây đấp một đàng tinh [quái] khôi [hài]".  Tại thời điểm lịch sử này, khi phối kiểm với thực tế, chúng ta thấy có xuất hiện một Hoàng Nhị Thiên đã lặng lẻ "hồi qui", đã "đăng sơn", đã "trở về gia trung", đã "nhận lãnh thiên thơ" trong năm Bính Thân 2016. Ngài cũng đã xuất sơn kinh hành tới vùng địa cực Cà Mau khai lập Tòa Đình Trung Ương Quốc Nội. Ngài trở ra hải ngoại "khai giáo" đúng vào "ngày mùng 2 tháng 8 cơ trời" năm Đinh Dậu 2017 tại California thiết lập Tòa Đình Trung Ương Quốc Ngoại ứng nghiệm với cơ Quốc Khách Đại Đạo mà Bửu Sơn Kỳ Hương phải biết.  Một Ngôi Hai trào tam  không ngại sứ mạng "thiết lập Đời Tân gốc Đạo Trời" với những chi tiết tuổi tác, họ tên, xuất xứ, học lực, nhân cách, căn cơ, năng lực, vai trò, hoạt động và huyền lực hoàn toàn trùng khớp với những tiên khải từ các tôn giáo khác nhau như đã trình bày qua cũng như những khẳng định vai trò của Ngài mà thiêng liêng đang tiếp tục khải lộ cho nhơn sanh biết.  


III. NHẬN ĐỊNH


Nhìn về tương lai, một TÔN GIÁO MỚI đã hình thành và có lẽ sẽ lớn mạnh theo thời gian đúng với sứ lệnh
"hành Đạo Kỳ Ba Vô Vi, đi thống nhất Triệt Giáo hoàn cầu mà thành lập Đạo Thầy"
để mà "Chân Truyền Đại Đạo kể từ đây""Đạo Thầy" là ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG tức là NỀN ĐẠI ĐẠO CỦA HUYỀN KHUNG THƯỢNG ĐẾ, cũng vẫn với "biểu hiện Cao Đài" nhưng không phải là tôn giáo Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ khai mở năm 1926 hay là các hậu thân của tôn giáo này mà là một Thiên Khai Huỳnh Đạo Đại Đồng do chính Thầy Trời hóa thân xuống trần lần thứ ba tại Việt Nam để "khai Giáo". Tuy cũng sử dụng cùng cụm chữ "Huỳnh Đạo Thiên Khai" nhưng không phải là tôn giáo Thiên Khai Huỳnh Đạo "tạm thời hoằng khai" năm 1962.  Có thể đoán đây là một TÔN GIÁO VÔ VI, một TÔN GIÁO HUYỀN MẬT, một TÔN GIÁO SIÊU LINH, một TÔN GIÁO ĐẠI ĐỒNG, một TÔN GIÁO HOÀN CẦU từ sự huyền đồng của các tôn giáo hiện tại.  Nó sẽ không đặt nền tảng trên những ràng buộc hữu vi thông qua giáo điều, qua tổ chức tinh vi, qua guồng máy vận hành đồ sộ, hay dưới ảnh hưởng chính trị đời và chính trị đạo thường thấy ở mọi tôn giáo hiện tại.  Nó sẽ không đặt nền tảng trên những giá trị vật chất hay những tự tôn văn hóa vùng miền theo thời gian sẽ bị lũng đoạn hoặc gây ra phân hóa.  Vì những thứ này đã bị lũng đoạn đến mức độ tồi tệ và sẽ bị sụp đổ hoàn toàn vào một thời điểm trong tương lai.  Nền tảng của ĐẠI ĐẠO HUYỀN KHÔNG là "từng mỗi và tất cả" cá nhân đều có "cơ hội và khả năng" trực tiếp "truy cập vào nội mạng Huyền Không" để được hướng dẫn bởi Huyền Không Thiên Thượng, tự khám phá sự huyền nhiệm bên trong bản thân, tự sáng tỏ giáo lý thâm sâu vi diệu.  Một tôn giáo mà tất cả giáo chúng đều là những con người hiền thiện, những con người có khả năng tâm linh cao, những con người sẽ còn sót lại sau Phán Xét, những con người của Thánh Đức Tân Dân, của Kỷ Nguyên Di Lạc. 
 

"Cơ Tiến Hóa xoay vần đến buổi
Buổi nhân loài đến tuổi trưởng thành
Đến ngày hiểu được ngọn ngành
Mỗi Người tự ngộ Đạo Lành nơi Tâm
Ngươn Thánh Đức Tân Dân tái tạo
Mỗi người đều có Đạo Tự Nhiên
Mỗi người tự biết Căn Tiên
Tánh Trời Tâm Phật Bản Nguyên của mình
Dân Nước Thánh Tâm Minh Trí Sáng

Là Dân Trời bản dạng Thiên Lương
Hiền hòa chất phát yêu thương
Nơi nơi an lạc mười phương thái hòa
Khắp Trần Thế nhà nhà tu luyện
Người người đều hiển hiện Phật Tâm
Vui say mùi Đạo âm thầm
Cùng Trời giao cảm Đạo ngầm quảng khai
...

Nền Đại Đạo Tiên Thiên khai mở
Để mỗi người quay trở vào Tâm
Mỗi Người Tự Ngộ Lý Thâm
Nhờ công tu luyện chí chăm một đời

Chẳng phải nhờ theo thời theo thế
Chẳng phải qua đoàn thể giáo tông
Cơ huyền kiếp sống muốn thông
Thì cần phải có dụng công tu trì
Đại Đạo vốn Vô Vi Vô Tướng
Đại Đạo thì Vô Lượng Vô Bờ
Mỗi người ngộ đắc Thiên Thơ
Tự nơi sâu thẳm Tâm Cơ của mình
Chẳng phải tìm nơi Đình, Chùa, Thất
Phải biết tìm ra Phật nơi lòng
Giờ giờ phút phút nhìn trong
Nhìn vào Tự Tánh sẽ thông Cơ Huyền.

(Ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão, đàn dạy đạo huynh Quyền Pháp)
 

          Và quan trọng hơn hết, nếu cái "Đạo Thầy" trong tương lai cũng là "từ Đấng Cao Đài  khai Giáo" nhưng cái "Đạo Thầy" đó không phải là "Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ hoằng khai năm 1926" thì diện mạo Pháp Chánh Truyền của cái "Đạo Thầy" này ra sao?  Trong một đàn cơ năm 1998, Long Nữ Tiên Nương đã giải thích:

  

"Lý Chân Như cơ mầu ẩn hiện
Đường về Thầy tu luyện làm đầu
Muốn cho thấu lẽ nhiệm mầu
Con đường Chánh Đạo phải cầu nơi Tâm.
Đường Cao Học thâm thâm vi diệu
Đạo vô vi bí yếu khôn lường
Chí tâm tìm hiểu cho tường
Nội quan phản chiếu rõ đường huyền vi.
Nay nhằm buổi Tam Kỳ khai mở
Pháp Chánh Truyền sáng rỡ Tâm Kinh
Móng nền Cơ Đạo Huyền Linh
Tìm ra Chân Lý Đạo Huỳnh nơi Tâm.
Cao Đài Đạo huyền thâm mặc mặc
Muốn gặp Thầy giữ chặt Tâm Kinh
Hư vô chi khí Thượng Đình
Tu đơn luyện kỷ công trình công phu.
Pháp mầu phải tầm tu cho đạt
Phải cho tường Y Bát truyền lưu
Phải thông Diệu Lý Vô Ưu
Phải hành đúng pháp phải tu đúng đường.
Đuốc Chơn Lý đưa đường dẫn nẽo
Đạo Từ Bi phải khéo tô bồi
Công phu công quả đành rồi
Công trình phải đủ vậy thời Tam Công.
Tu Chơn Tánh thâm thông diệu lý
Luyện phép mầu ý chỉ nơi lòng
Luyện trau Tánh, Mạng cho đồng
Có Tâm có Thể mới hòng đắc minh.
Cơ Đại Đạo thinh thinh hiện ẩn
Lý vô vi xen lẫn hữu hình
Có Vô có Hữu quy trình
Trong vô có hữu lấy hình làm không.
Người đạt lý Tâm Trung vô ngại
Đạo Huyền Đồng tự tại như như
Không trên dưới, không thiếu dư
Không cao không thấp Huyền Hư ý này.
Muốn hiểu được Đạo THẦY diệu lý
Muốn tìm ra huyền bí Đạo Cao
Phải thông Chơn Pháp THẦY trao
Phải tường căn cội Đài Cao nơi mình.
Năng đọc tụng Huỳnh Đình vô tự
Thường luyện Thần học chữ Tâm Kinh
Thời thời tưởng Đạo nơi mình
Sát na nắm chặt Huỳnh Đình mà phăng.
Phăng cho thấu Đạo hằng rỡ rỡ
Tìm cho ra Tâm ở nơi nào
Khí Tinh lên xuống ra vào
Âm Dương nhị khí hai hào đắc minh.
Minh Chơn Lý Đạo Huỳnh tỏ rõ
Thấy tận tường sáng tỏ Đạo Cao
Vô vi hình tướng sắc màu
Nhiệm thông huyền lý Đạo Cao của Thầy.
Gieo Chơn Pháp Thầy gầy từ thuở
Hiển Đạo mầu sáng rỡ gương soi
Để đời lưu dấu khá noi
Gương tu Thầy để khá coi theo hành.
Hành Chánh Pháp cho thành quả vị
Để làm nền chuẩn bị Đạo khai
Chờ ngày Cứu Thế Cao Đài
Tỉnh mê sanh chúng lập đời Thượng Ngươn."

(Ngày 9 tháng 7 năm Đinh Sửu 1997, đàn dạy h/h Quyền Pháp).
  

          Đó là Pháp Chánh Truyền của Thầy.  Còn hai chữ "Vô Vi" có thể gói gọn như sau:

  

"Vô Vi không luận thấp cao
Không cao mà lại trùm bao đất trời
Vô Vi không nói một lời
Một lời không nói mà trời đất theo
Nhiệm màu cái đạo Vô Vi
Nên Thầy khuyên trẻ hãy đi đến cùng."
(Ngày 9 tháng 7 năm Đinh Sửu 1997, đàn dạy h/h Quyền Pháp).

  
IV. KẾT LUẬN  


Toàn bộ CHƯƠNG TRÌNH LẬP ĐỜI THÁNH ĐỨC TÂN DÂN CỦA HUYỀN KHÔNG đã được giải trình.  Người viết đã cố gắng giải trình một cách khách quan với thái độ của một nhà nghiên cứu "sấm giảng và thi văn đạo giáo" chứ không với tư cách là một tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.  Người viết chỉ căn cứ trên chứng liệu "khả tín" vì đã "trải qua thử thách theo thời gian".  Người viết tuyệt nhiên không có ý xúc phạm bất cứ ai hay bất cứ tôn giáo nào.  Và trong sự giải trình nếu có điều chi sơ xuất hay làm phật lòng một ai, người viết cúi đầu cầu xin sự rộng lượng tha thứ.   

          

          Để chốt lại những điều đã giải trình chỉ trong một vài lời ngắn ngủi là một điều ngoài sức của người viết.  Như vậy, còn biết nói lời gì hơn là được phép lập lại một câu nói đơn giản:"Phúc cho những ai chưa/đã thấy mà tin".
   

"Cơ cuộc thế Đông Tây Nam Bắc
Sẽ có ngày bế tắt đảo điên
Do vầy Lượng Cả Ơn Thiên
Chuyển đưa Chư Phật Chư Tiên xuống trần.
Để cứu độ Nguyên Nhân kỳ chót
Vượt ái hà giải thoát trần lao
May duyên gặp buổi Đạo Cao
Ơn Trời khai mở Pháp trao cứu nàn.
Bớ sanh chúng lên thoàn lẹ lẹ
Để quày về đất MẸ quê CHA
Nương theo Pháp Đạo Kỳ Ba.
(Đàn giờ Tí, 14/7/1997 Đinh Sửu, đàn dạy h/h Quyền Pháp)

 

BL ngày 14 tháng 7 năm 2017
Cập nhật 09/2019

LS. THT


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Ba 2018(Xem: 12591)
Thiên thơ của Thiên Ánh Đạo Vàng với những tiên tri liên quan đến Thiên Đạo Huyền Không.
11 Tháng Ba 2018(Xem: 28235)
Mật điển của Phật Thầy Bửu Sơn, Pháp Chủ Thiên Khai Huỳnh Đạo chấp bút.
15 Tháng Sáu 2018(Xem: 3631)
Sấm Giảng Của Phật Trùm.
01 Tháng Bảy 2018(Xem: 5241)
Mật điển của Phật Thầy Bửu Sơn, Pháp Chủ Thiên Khai Huỳnh Đạo chấp bút.
05 Tháng Bảy 2018(Xem: 3328)
Đàn Cơ Thiên Khai Huỳnh Đạo. Đức Phạm Công Tắc, Hộ Pháp Cao Đài Đại Đạo Giáng Điển.
05 Tháng Bảy 2018(Xem: 4890)
Điển thi của Thiên Khai Huỳnh Đạo. Đức Ngôi Hai giáng đàn.
30 Tháng Bảy 2018(Xem: 6102)
Đàn cơ tại Bát Quái Đồ Thiên (Hà Tiên) năm 1935. Thi thơ cơ mật của Cao Đài chỉ lưu hành nội bộ, đến khi cả thế giới xảy ra cảnh: “Ngòi lửa dậy bốn bề nao nức, Năm Châu tràn tuyệt dứt nhơn sanh” và “Trung Đông chiến họa lưỡng dân điêu tàn.” thì nội dung mật đàn này mới được phép phổ biến. Sau năm 2001 chính là thời điểm.
31 Tháng Bảy 2018(Xem: 6103)
Điển Sấm của Phật Thầy Tây An, Ngọc Thanh Tiên Trưởng và Trạng Trình. Xuống điển năm 1976.
31 Tháng Bảy 2018(Xem: 4719)
ĐÀN CƠ NGŨ PHỤNG KỲ SƠN.
01 Tháng Tám 2018(Xem: 4606)
Đàn cơ của Thiên Khai Huỳnh Đạo. Nội dung chứa đựng nhiều mật khải quan trọng.
23 Tháng Tám 2018(Xem: 4171)
Những lần vấn đáp với Cô Lê Hoàng Kim, được biết đến là Kim Thân Cha, qua một thời gian dài được sưu tập và ấn bản có tên Thượng Đế Giảng Chơn Lý.
04 Tháng Mười 2018(Xem: 2774)
"Thất Nhựt Du Tiên" do Đức Ngô Chưởng giáo Ngô Văn Dư giáng cơ tại HỘI THÁNH THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO .. sau khi liễu đạo,
04 Tháng Mười 2018(Xem: 2960)
Huyền Khung Thượng Đế tóm lượt những chuyển biến của Đạo Cao Đài và ...
04 Tháng Mười 2018(Xem: 3287)
Kìa hướng Bắc chòm sao đẩu tinh đà ứng lộ, Xẹt vào Nam khắp chỗ ánh hào quang, Chiếu tường-vân ngũ-sắc khắp Nam-bang, (Tiên tri của Phật Thầy Tây An; đàn cơ 6/3/1971, Kinh Bình Minh Đại Đạo Quyển 3)
27 Tháng Mười 2018(Xem: 2998)
... Nhưng trên phương diện dân tộc và sự phấn phát đã đem lại cho nền Phật-giáo Việt Nam thì Bửu- Sơn Kỳ- Hương không khác Trúc Lâm Yên Tử.
11 Tháng Giêng 2019(Xem: 3146)
Đại học là một trong 4 sách cơ bản trong bộ Tứ thư của Nho gia...
12 Tháng Tám 2019(Xem: 1277)
Thượng Đế nói về 12 chi phái Cao Đài.
26 Tháng Ba 2020(Xem: 1421)
Tiên tri của Cao Đài, của Bần Sĩ Vô Danh, Của Hộ Pháp Phạm Công Tắc...
29 Tháng Ba 2020(Xem: 1162)
Tiên Tri của Cậu Bần Sĩ Vô Danh.